Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Con chim gãy cánh (6)

Bác tài cho xe chạy càn lên cỏ và dừng lại bên thềm nhà. Bác bước xuống xe, chạy vội ra sau, nhanh nhẹn mở cửa để tôi bế Thu Hồng ra. Thanh đã xuống trước, mở rộng cửa gian nhà. Tôi bước vào, thấy dễ chịu vì nhà đã sắp đặt gọn gàng nhờ một ngày làm việc cật lực của Thanh và chị Thịnh.
Căn nhà gồm một phòng duy nhất, ngang ba thước, sâu năm thước, phía sau có một chái nhỏ dùng làm bếp. Một chiếc giường nhỏ đặt phía trước, gần cửa ra vào. Kế bên là chiếc bàn trước đây Thu Hồng dùng để làm việc. Cuối phòng, chiếc giường khá lớn đặt cạnh một cái rương chứa tất cả quần áo của hai chị em.
Tôi đặt Thu Hồng lên giường lớn và quay ra trả tiền xe. Bác tài nhận tiền, nói cám ơn với nét mặt đầy thương cảm.
Thế là bắt đầu cuộc sông ẩn dật của tôi. Tôi cảm nhận những ngày vẫy vùng trên trận mạc của tôi đang bắt đầu chìm sâu vào quá khứ. Thôi thế cũng xong, số phận đã an bài cho vợ chồng tôi rồi; chỉ tội cho Thanh, em phải bỏ học nửa chừng, ngày sau cuộc đời em sẽ ra sao?
Tôi ra ngoài, đi một vòng quanh nhà, bước lên những thanh tre, những khúc gỗ, những cọng lá còn vương vải khắp nơi. Khu đất khá rộng, bị bỏ hoang từ nhiều năm rồi, chung quanh trống trơn, chẳng biết ranh giới tới đâu. Tít trong xa, thấp thoáng vài căn nhà lá ẩn dưới những cây cao. Tôi muốn đưa Thu Hồng ra nhìn cảnh vật êm đềm nhưng sợ nàng mới đi xa mệt nên thôi.
Tôi trở vào nhà. Thu Hồng nằm ngửa, mắt mở to, trông có vẻ thoải mái. Thấy tôi bước vào, nàng quay mặt nhìn tôi, mỉm cười. Tôi ngồi xuống giường, cúi xuống, ôm lấy hai vai và hôn lên đôi mắt. Tôi khẽ hỏi:
- Thu Hồng, em có thích nơi nầy không?
Nàng cười tươi gật đầu. Môi nàng mấp máy, nhiều âm thanh nho nhỏ phát ra. Tôi cúi sát xuống mặt hỏi nàng:
- Có phải em muốn nói nơi nào có anh thì em thích sống phải không?
Nàng gật đầu, đôi mắt sáng lên niềm vui sướng. Đó là điều tôi mới khám phá ra hai hôm nay. Nàng nằm bất động một chỗ, ký ức dần trở lại, nàng muốn chuyện trò với người khác nhưng không nói được. Mất khả năng diễn tả là điều cực kỳ đau đớn. Vì vậy, tôi thường quan sát nét mặt nàng và đoán cái điều mà nàng muốn nói. Tôi nói ra điều đó giúp nàng làm cho nàng tỏ ra vui sướng. Tôi dịu dàng bảo:
- Chiều nay, anh sẽ đưa em ra ngoài để ngắm cảnh vật êm đềm chung quanh chỗ ở chúng ta. Em có thích không?
Nàng gật đầu. Tôi nói tiếp:
- Anh sẽ trồng rau, trồng cây ăn trái trong khu đất nầy, biến nó thành một khu vườn xinh đẹp. Sau nầy em sẽ đi dạo trong khu vườn mát mẻ đó, dưới bóng những cây đang đơm hoa và những cây trĩu quả trên cành. Em có thích không?
Nàng lại gật đầu.
- Ngay ngày mai, anh bắt đầu làm một vườn hoa bên trước sân nhà. Anh sẽ trồng lên đó những cây hoa đủ màu và tỏa hương thơm. Vườn hoa đó là của riêng em. Em có thích không?
Nàng cũng vẫn gật đầu, miệng cười thực tươi, hạnh phúc tràn ngập trên khuôn mặt rạng rỡ và xinh đẹp.
Từ lúc về nhà đến giờ, Thanh loay hoay trong bếp, lửa cháy tí tách, khói thoát ra ngoài qua hai đầu xông, làm cho gian nhà thực ấm cúng. Bữa ăn trưa đạm bạc với thịt hộp mua sẵn từ hôm trước. Thế mà Thu Hồng ăn ngon miệng. Trước khi ăn, nàng tỏ vẻ muốn được ngồi dựa vách như lúc còn ở bệnh viện. Tuy nhiên, ở đây, cái vách lá ọp ẹp chứ không vững như bức tường, nên nàng phải nằm nghiêng trên mấy cái gối kê cao, để tôi đút cho nàng từng muỗng cơm.
Ăn xong, tôi đỡ nàng nằm xuống. Như thói quen lúc còn trong bệnh viện, tôi ngồi kế bên vuốt tóc cho đến lúc nàng ngủ say.
Tôi đi lui đi tới, suốt từ cửa trước đến cửa sau, suy nghĩ mông lung. Sáng mai, Thanh sẽ về Sài gòn, lãnh lương của Thu Hồng. Đúng ra là tiền cứu giúp của tháng đầu tiên mà nhà trường hứa cung cấp thường xuyên cho Thu Hồng. Em sẽ mua một xe đạp để hàng ngày đi chợ. Tôi viết thư cho Thịnh nhờ bán gấp căn phố của Thu Hồng, hi vọng đó là số tiền lớn vì khi mua tôi đã dùng tất cả tài sản cha mẹ để lại. Số tiền nầy có thể tạm đủ cho ba chúng tôi sống ít nhất hai năm. Tuy nhiên tôi cũng sẽ trích ngay một phần mua cho Thu Hồng một chiếc xe lăn dành cho người tàn tật. Nàng sẽ ngồi trên đó để tôi đẩy đi dạo chơi khắp nhà. Bên ngoài, tôi sẽ cố gắng nhanh chóng dọn dẹp sạch sẽ, trước hết là chung quanh chỗ ở, bang mặt đất cho phẳng, để xe nàng có thể lăn lên một cách êm ái. Từ trước đến nay, tôi chưa hề cầm đến cây cuốc, nhưng tôi nghĩ rằng mình sẽ thực hiện được ý muốn không mấy khó khăn vì những năm mặc áo lính đã cho tôi sức chịu đựng nhọc nhằn và tình yêu to lớn đối với Thu Hồng giúp tôi thắng sự mệt mỏi để bớt được phần nào sự khổ đau của nàng vì bệnh tật. Tôi sẽ dọn dẹp miếng đất hoang ngày một rộng hơn, để dần dần nàng được đẩy đi xa hơn trong khu vực bình yên nầy.
Tôi say sưa với ý nghĩ về những ngày sắp tới cho đến lúc cảm thấy đôi mắt nặng trĩu, tôi bước đến giường, rón rén leo lên nằm bên nàng, ngủ một giấc ngon lành vì cả tuần lễ rồi trong bệnh viện, tôi chỉ được những giấc ngủ chập chờn.
Tôi thức giấc khi mặt trời xế bóng. Thu Hồng đã dậy không biết tự lúc nào. Tôi vừa mở mắt là gặp ngay cái nhìn đắm đuối của nàng. Tôi ngồi dậy hôn vào trán nàng rồi bước xuống giường. Thanh đang dọn dẹp quanh nhà, lửa trong bếp đang nổ tí tách vui tai. Nắng chiều rọi vào cửa trước, mang theo hơi nóng và sự chói chang. Tôi ra khép cửa và trở lại giường dùng quạt phe phẩy cho Thu Hồng. Nàng sung sướng mỉm cười. Bỗng, nàng nhắm mắt lại rồi mở to ra, nước mắt lưng tròng, môi mấp máy, một âm thanh nho nhỏ phát ra.
Tôi biết nàng muốn nói ra điều gì đó. Những lúc thế nầy, nếu nàng được người khác dùng lời của mình phát biểu cho trúng ý thì nét mặt nàng trở nên rạng rỡ, đáng yêu vô vùng. Tôi muốn đem đến cho nàng phút giây hạnh phúc, nên cúi xuống đoán ý nàng:
- Trời nắng nóng, em khát nước phải không?
Nàng nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn sâu vào mắt, cố gắng hình dung một biểu hiện nào đó cho phép bắt được dòng ý nghĩ trong bộ óc đáng thương của nàng. Có tiếng xe cộ văng vẳng từ xa lộ vọng vào. Tiếng xe làm tôi liên tưởng đến ý nghĩ của nàng:
- Nghe tiếng xe cộ ngoài kia, em lại nhớ thành phố, nhớ trường, nhớ lớp có phải không?
Nàng lại lắc đầu, cặp mắt vẫn ứa lệ, nghiêng đầu nhìn chiếc quạt tôi đang cầm trong tay rồi ngửa đầu trở lại, nhìn lên mái nhà, mắt xa xăm buồn bã.
Không gian như chùng xuống. Có tiếng người la í ới, tiếng chó sủa ở xóm trong. Gió chiều thổi vào mái tranh, những cọng lá lòa xòa khua vào nhau, nghe lách cách một cách êm êm. Trong đầu tôi, một thoáng quá khứ hiện ra, nhẹ như tơ, buồn thoang thoảng. Trong thoáng quá khứ đó, bỗng hiện ra bóng dáng của mẹ tôi, đôi mắt hiền từ, đang cầm quạt phe phẩy cho đứa con trai nằm trên giường bệnh ở một làng quê trong tỉnh Trà vinh của tôi.
Hình ảnh đó đã quá xa xưa; nó lẩn khuất trong một thời gian dài trong bề sâu của ký ức, tại sao hôm nay trở lại? Hình ảnh đó lại quá tầm thường, có gây ấn tượng nào mạnh mẽ trong quãng đời về sau của tôi đâu.
Kỷ niệm về người mẹ yêu quý vẫn đầy ắp trong ký ức tôi, ở đó có biết bao nhiêu đoản khúc, đôi khi vẫn quay lại làm cho tim tôi se thắt. Những đoản khúc nầy thường rất đậm đà, rất bi thương, hình ảnh mẹ gần như luôn hiện ra trong khung cảnh của những đoản khúc bi thương nầy. Thế thì tại sao hôm nay, mẹ lại trở về với tôi trong dáng vẻ thanh nhã nhẹ nhàng, tay phe phẩy quạt cho đứa con trai duy nhất của bà?
Tôi quay lại nhìn Thu Hồng, đôi mắt nàng vẫn xa xăm buồn bã. Tôi muốn nói một điều gì đó để cho nàng vui. Tôi cúi xuống, vuốt má nàng, lấy giọng thực âu yếm:
- Bỗng nhiên, anh nhớ lại ngày xưa, mẹ anh cũng ngồi quạt cho anh như thế nầy. Lúc đó, anh chỉ mới lên mười nhưng hình ảnh đó trở về thực rõ như mới hôm qua. Ngày xưa có khi nào mẹ em cũng phe phẩy quạt cho em như thế không?
Nàng giật mình, nghiêng qua nhìn tôi, miệng há ra một cách ngạc nhiên, đôi mắt mở to đầy cảm xúc, nét mặt hân hoan không kể xiết. Tôi ôm lấy khuôn mặt nầy, để má tôi tựa vào má nàng.
Bấy giờ tôi mới hiểu được thế nào là sự giao cảm lặng thầm giữa hai tâm hồn rất mực yêu nhau. Tôi cũng vui mừng thấy mới có mấy ngày, ký ức của nàng đã phục hồi đến giai đoạn xa xăm của tuổi thơ. Trong bộ óc bị tê liệt vì một cơn đột quỵ, đang có sự khai thông dần dần, như một con đường đang dọn dẹp lại cho thông suốt sau một cơn bão tố làm tắt nghẽn trong cảnh đổ nát hoang tàn.
Tôi sung sướng, lòng tràn ngập hi vọng nàng đang tiến đều đặn trên con đường bình phục. Sau sự hồi phục của trí tuệ, sẽ dần dần đến sự hồi phục của các chức năng vận động, kể cả lời nói và chữ viết nữa. Một ngày nào đó, nàng sẽ trở lại dạy học. Mùa hè, tôi sẽ dẫn nàng đi đây đi đó. Chúng tôi sẽ ngắm hoàng hôn về trên đỉnh Lang Biang mờ mờ sau làn sương mỏng. Chúng tôi sẽ ngắm bình minh trên bãi biển Vũng tàu, mặt trời đỏ ối, to như cái nia ló lên khỏi mặt nước phẳng phiu như trang giấy học trò. Tôi tưởng tượng lúc ấy hòa bình đã đến, miền Nam không còn binh đao và tôi cũng không còn lo sợ bị truy nã nữa. Tôi nói cho nàng nghe những ý nghĩ vừa chợt đến trong đầu tôi, làm cho hạnh phúc bao trùm lấy tấm thân tàn tật của nàng.
Bữa cơm chiều được Thanh dọn ra. Tôi cho nàng ăn trước rồi mới ngồi vào bàn với Thanh. Khi tôi đặt nàng nằm xuống, nàng tỏ vẻ không bằng lòng, nhìn tôi một cách tha thiết rồi nhìn về chiếc bàn trên đã bày sẵn bữa ăn. Tôi hỏi nàng:
- Em muốn ngồi đây nhìn anh dùng bữa phải không?
Nàng vui vẻ gật đầu. Trong bữa ăn, nàng nhìn tôi và Thanh với vẻ thèm thuồng. Tôi cảm động, buông đũa, đứng dậy đến cầm tay nàng thủ thỉ:
- Em muốn cùng dùng bữa với anh và Thanh phải không?
Nàng gật đầu. Tôi nói tiếp:
- Anh sẽ kiếm một cái ghế dựa. Mỗi bữa ăn, em sẽ ngồi bên anh, anh vừa ăn, vừa đút cho em ăn. Có phải em thích như thế không?
Nàng mừng rỡ gật đầu. Tôi cũng mừng rỡ không kém. Tôi đã thực sự xâm nhập được vào thế giới câm nín của nàng.
Đêm đã đến. Thanh đốt ngọn đèn dầu, ánh sáng vàng vọt làm cho gian nhà ấm cúng hơn. Bên ngoài, trăng vừa lên bị mây che khuất, cố gắng rọi xuống trần gian ánh sáng nhạt nhòa. Tôi nhìn qua khung cửa trước, mọi vật bên ngoài thực huyền ảo, xa lộ Biên hòa hiện ra lờ mờ, vắng tanh. Tôi bước ra khỏi nhà, lần về phía sau, đứng im dõi mắt nhìn xóm làng xa xa. Dưới ánh sáng huyền ảo, hàng cây kéo thành một vệt đen dài và lởm chởm, bên dưới bầu trời xám, rải rác có những cụm mây trắng đục.
Khoảng không gian yên tĩnh rạn nứt vì một tiếng nổ xa xa. Tiếng súng thực cô đơn đột nhiên gợi cho tôi biết bao kỷ niệm làm cho tim tôi thắt lại. Đồng đội của tôi giờ nầy ra sao? Còn ai nữa đã gục trên chiến trường? Họ vẫn còn nhớ đến tôi hay không? Họ còn yêu thương tôi hay căm ghét và khinh bỉ kẻ đã chối bỏ phận làm trai thời loạn? Tôi trở vào vì không muốn đứng đó lâu để bị nỗi buồn phiền gặm nhấm.
Tôi nhẹ nhàng bước lên giường và nằm kế bên tấm thân tàn tật của Thu Hồng. Sự tĩnh mịch của đêm ngoại ô nhanh chóng đưa chúng tôi vào giấc ngủ an lành.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy khi bình minh vừa ló dạng. Phía xa lộ, có tiếng máy nổ dòn của xe lam ba bánh; xóm làng bên trong vẫn im lìm như vẫn còn chìm đắm trong giấc ngủ say. Từ dưới bếp, ánh lửa bập bùng rọi lên. Thanh đã thức dậy từ lâu và đang nấu nồi cháo cho bữa ăn sáng.
Sau bữa ăn, Thanh ra xa lộ đón xe về Sài gòn. Tôi đã dặn em nhiều việc trong chuyến đi nầy. Trước hết là đến trường gặp Thịnh để trao lá thư của tôi. Sau đó, em lãnh lương của Thu Hồng và nhờ một thầy cô nào trong trường dẫn em đi mua xe đạp, xong trở về nhà cũ lấy nốt những vật dụng còn để lại.
Tôi dặn em đi nhanh để về sớm nhưng tôi đoán trước em không về sớm được. Em sẽ ghé lại lớp để từ biệt bạn bè. Tôi hình dung những đứa trẻ sẽ ôm nhau khóc nức nở làm cho thầy cô giáo cũng mủi lòng. Thanh là học sinh giỏi của lớp, tất cả thầy cô và bạn bè đều mến yêu. Nếu còn tiếp tục thì đây là năm học cuối cùng của em tại trường nầy. Em đã hi vọng thi đậu vào lớp Mười trường Gia long, ngôi trường lý tưởng của tất cả nữ sinh ở thủ đô. Nhưng bây giờ, chấm dứt tất cả ước mơ non trẻ của em. Thực là đau lòng.
Thanh đi rồi, tôi ngồi bên giường, kể chuyện cho Thu Hồng nghe một lát rồi sực nhớ những quyển truyện nhi đồng mà tôi đã đọc chưa hết lúc nàng còn nằm trên giường bệnh. Tôi đứng dậy đến nơi cái rương to để soạn đồ đạc mà chị Thịnh và Thanh đã dồn cả vào trong. Những quyển sách nầy chắc chắn không có rong rương mà ở đâu đó trong các giỏ xách từ bệnh viện mang về. Tuy nhiên, tôi đổi ý, muốn lục rương vì tò mò muốn xem những vật dụng của hai chị em trong những ngày còn ở nhà cũ.
Thu Hồng nghiêng đầu, dõi mắt nhìn theo tay tôi một cách thích thú. Thấy vậy, tôi đứng dậy, sắp lại những chiếc gối trên giường và đỡ nàng ngồi để xem tôi làm việc. Nắp rương được mở ra, bên trên toàn là áo quần của hai chị em. Tôi mang từng xấp một để trên bàn để tiếp tục xem những vật dụng bên dưới. Bỗng tôi nghe tiếng Thu Hồng ú ớ. Tôi giật mình quay lại. Mắt nàng mở to, nhìn sững về phía bàn. Tôi theo ánh mắt và chợt hiểu.
Màu tím hoa cà! Chiếc áo dài màu tím hoa cà mà nàng đã mặc lúc bước lên phi cơ để vào Nam. Tại phi trường Đà nẵng, tôi đã say đắm nhìn tà áo dài bay phất phới ở đầu cầu thang và tình yêu bắt đầu đốt cháy tâm can tôi từ dạo ấy.
Tôi cầm chiếc áo đến đặt vào lòng nàng. Thu Hồng cúi xuống nhìn áo rồi ngẩng lên nhìn tôi, nước mắt rưng rưng. Tôi ngồi xuống, đặt đầu nàng tựa vào ngực tôi và cúi xuống hôn nhẹ vào má nàng. Khi tôi ngẩng lên thì trông thấy nét mặt nàng thực rạng rỡ nhưng hai giọt nước mắt tiếp tục lăn dài trên đôi má.
Tôi lấy khăn lau mặt cho nàng rồi tiếp tục công việc lục soạn đồ đạc trong rương. Tôi lôi ra chiếc radio-cassette và một hộp giấy nhỏ chứa đầy những cuộn băng ghi những bản nhạc mà nàng ưa thích. Tôi mừng rỡ vì nghĩ rằng tiếng nhạc trong gian nhà u tịch và hẽo lánh nầy sẽ rất tốt cho tâm trí nàng hiện nay. Tuy nhiên, máy chưa dùng ngay được vì nơi đây không có điện; tôi sẽ mua pin lắp vào sau.
Tôi xếp mọi thứ vào rương. Chiều nay, tôi sẽ giao nhà cho Thanh và đi chợ Thủ đúc. Tôi sẽ mua pin và những dụng cụ làm vườn. Ngày mai tôi sẽ khởi công. Chuyện trước hết là lập vườn hoa ở sân trước, sau đó mới tính đến khu vườn cây ăn trái phía sau nhà.
Tôi đến ngồi bên Thu Hồng, nhắc lại ý định lập vườn hoa với nàng. Tôi hỏi nàng thích hoa gì?
Hoa cúc? Nàng gật đầu.
Hoa vạn thọ? Nàng gật đầu.
Hoa mào gà? Nàng gật đầu.
Tôi cố nhớ những loài hoa khác. Khổ nỗi, tôi không phải là người thích chơi hoa nên chỉ được vài loài nữa là hết. Tôi vừa nói ,vừa cười to:
- Khu vườn nầy sẽ là vương quốc của những loài hoa, em sẽ la nữ hoàng của vương quốc đó. Đúng không?
Nàng gật đầu, nụ cười rạng rỡ. Tôi sung sướng thấy nàng tiến thêm một bước trên con đường hồi phục vì nàng vừa lấy lại ý thức khôi hài của người bình thường. Tôi sẽ để tâm tìm những câu nói đùa thực vui để làm cho căn nhà nhỏ nầy trở thành một tổ ấm đầy tiếng cười, với hi vọng đẩy nhanh tiến độ hồi phục của nàng. Song song với sự hồi phục tâm trí, tôi cũng tìm mua hay nghĩ cách tự chế vài dụng cụ giúp nàng lấy lại cử động tay chân.
Tôi vuốt đôi má nàng và bảo nàng nằm nghỉ để tôi đi nấu cơm, vì chắc chắn Thanh không thể về nhà trước bữa trưa được.
Quả thực, đến xế chiều, Thanh mới về tới. Tôi nhìn thấy em đạp xe từ xa lộ, băng qua con đường mòn gập ghềnh mới đến nhà. Mặt em đỏ bừng vì nắng nóng, mồ hôi nhễ nhại nhưng nét mặt thơ ngây thực rạng rỡ. Sau xe là một giỏ to đầy đồ đạc.
Vừa dựng xe, em đã la to:
- Anh Hưng, em đạp xe từ Sài gòn về.
Tôi ngạc nhiên:
- Em biết đi xe đạp từ khi nào?
- Lâu rồi, từ mấy năm trước, em mượn xe của Loan, con gái ông tổng giám thị, tập trong sân trường.
Tôi đỡ lấy xe đạp. Em bước xuống chạy nhanh vào nhà. Tôi nghe giọng em tíu tít nói chuyện với Thu Hồng.
Tôi nhìn chiếc xe, ngạc nhiên thấy xe đã cũ. Tại sao không phải là xe mới? Có lẽ Thanh tìm mua xe cũ cho đỡ tốn tiền. Đứa bé nầy thực là đáng thương.
Thanh trở ra, thấy tôi đang quan sát chiếc xe, em nói:
- Cô Hường, giáo sư hướng dẫn lớp cho em đó. Khi sáng, lãnh lương xong, em nhờ cô dẫn đi mua xe thì cô bảo đem xe nầy về mà dùng. Xe nầy cô đang sử dụng để đi dạy nhưng cô còn một chiếc nữa ở nhà.
Tôi tò mò nhìn em:
- Em gặp cô Hường tại lớp à?
- Dạ, lãnh lương xong, em chạy đại vào lớp. Đang giờ quốc văn của cô.
- Em có gặp bạn em để từ giã không?
- Có, tụi nó ôm em khóc quá chừng. Em cũng khóc. Cô Hường cũng khóc luôn. Giờ chơi, mấy cô kéo em vào văn phòng hỏi thăm chị Hồng và hỏi địa chỉ để đến thăm.
Tôi lo lắng:
- Em có cho các cô biết địa chỉ không?
- Không, em không nói, anh có dặn em rồi mà.
- Có ai biết anh đã về không?
- Không ai biết cả. Em nói chị Hồng đang sống nhờ nhà bà con và bác sĩ cấm không được gặp người quen, sợ chị Hồng xúc động. Anh dặn thế nào thì em nói thế đó. À anh Hưng, có cái thư của thầy Thịnh gởi anh.
Thanh móc túi lấy ra một xấp tiền cùng một bao thư xếp làm đôi:
- Thư và tiền lương của chị Hồng đây.
Tôi nhận lấy, cất tiền vào bọc và vội vàng bóc thư ra đọc:

Anh Hưng,
Tôi đã nhận được thư anh. Tôi viết vắn tắt để em Thanh kịp đem về cho anh. Chuyện bán nhà mà anh nhờ, tôi sẽ xúc tiến ngay và giải quyết trong thời hạn ngắn nhất. Tuy nhiên phải bán cho được giá để anh có tiền mà sống. Về thủ tục bán nhà thì anh khỏi lo. Nhờ làm hiệu trưởng nên tôi có quen biết những chỗ cần thiết, có lẽ không cần sự có mặt của cô Thu Hồng. Về việc cái xe lăn dùng cho người tàn tật mà anh nhờ tôi hỏi giá cả và nơi bán, tôi sẽ làm ngay. Nhưng anh không phải mua, chúng tôi sẽ tặng cô Hồng cái xe lăn đó. Tôi có bàn bạc sơ với vài thầy cô đang dạy và sẽ thông báo trong buổi họp hội đồng nhà trường sắp tới. Chắc chắn mọi người sẽ đóng góp. Các thầy cô đều nhắc đến cô Hồng với sự thương cảm sâu xa. Ai cũng còn nhớ cô Hồng và em Thanh là nạn nhân của chiến cuộc Tết Mậu thân nên họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Độ mười ngày nữa, anh cho em Thanh đến trường mang xe về.
Thì giờ gấp rút không thể viết dài được. Vợ chồng chúng tôi, tất cả thầy cô và học sinh tha thiết cầu mong Thu Hồng sớm bình phục để trở lại với trường.
Ký tên: Nguyễn đức Thịnh.

Tái bút: Nếu anh có thể thu xếp được để cho em Thanh đi học trở lại thì vợ chồng tôi và nhà trường sẽ lo liệu chỗ ăn ở và mọi chi phí cho đến khi em được lên đại học.

Đọc xong thư, tôi ngồi ngẩn ngơ một lúc khá lâu, thực xúc động vì tấm lòng của những con người miền Nam. Phải chi, miền Bắc đừng quá tham vọng để cho những người đó yên ổn sống với nhau thì cuộc đời sẽ đẹp đẽ biết bao.
Tôi định đọc lá thư nầy cho Thu Hồng nghe nhưng nghĩ lại, thôi không đọc nữa. Bức thư thực đẹp nhưng đã gây xúc động cho tôi thì đối với nàng sự xúc động phải mạnh hơn nhiều.
Thanh đã mang giỏ thức ăn treo trước tay lái xe đạp vào bếp. Em soạn ra nhiều món. Tôi bước đến gần, nhìn một cách tò mò. Rau, cá, thịt, ốc, và lạ lùng chưa, có cả một chai bia. Em ngẩng lên, nhìn tôi mỉm cười:
- Em ghé chợ chiều ở ngã tư xa lộ mua mấy thứ nầy. Suốt ngày hôm qua, lo dọn nhà không mua được thức ăn cho chị Hồng. Hôm nay, chị được ăn bù.
Thanh chỉ mớ ốc và chai bia:
- Phần của anh đây để mừng nhà mới.
Tôi cười:
- Nhà mới của cả ba người mà chỉ một mình anh mừng thôi sao?
Thanh bỗng đứng dậy đến gần tôi:
- Anh Hưng, em muốn nói với anh điều nầy.
Thấy tôi nhìn sững, em vội tiếp lời:
- Khi nãy em đi chợ chiều, rảo từ đầu đến cuối, thấy người ta mua bán cũng vui. Em nãy ra định ra tập mua bán ngoài đó. Em có làm quen với một bà bán cá, bà ấy bảo sẽ giúp đỡ em. Chị Hồng nằm yên tại chỗ, anh phải thường xuyên ở một bên để săn sóc, em phải lo cái sống.
Nói xong, em đứng yên cúi đầu chờ đợi câu trả lời của em. Tôi sửng sốt vì ý nghĩ nầy của một đứa trẻ thơ. Tôi hiểu sự lo lắng của em. Ngay từ khi mới chín tuổi, lúc còn ở Đà nẵng, em đã lén chị đi ăn xin ngoài phố khi hai chị em lâm vào bước đường cùng. Tôi cảm động nói với em:
- Thanh, em nghe anh nói đây. Gia đình mình có đủ tiền để sống, em không phải lo. Một hai hôm nữa, em sẽ đi học lại, nghe chưa? Anh Thịnh sẽ thu xếp chỗ ở cho em.
Tôi định nói những điều Thịnh viết trong thư thì Thanh đã ngẩng lên nghẹn ngào:
- Anh Hưng, anh có thương em không?
Tôi sửng sốt, chưa hiểu em muốn nói gì trong câu hỏi đó. Tôi cảm thấy đứa trẻ đáng thương nầy có những ý nghĩ không còn là trẻ thơ nữa. Tôi đáp lời:
- Sao em lại hỏi anh như thế? Anh mồ côi cha mẹ, chẳng có anh chị em ruột thịt. Anh đã gặp em và chị Hồng. Chị Hồng trở thành vợ anh và em trở thành đứa em ruột thịt của anh. Em không thấy thế sao?
Thanh nghẹn ngào tiếp lời:
- Em cũng mồ côi cha mẹ như anh. Bác Tư đem về nuôi và thương như con đẻ. Bác Tư, anh Trí, anh Tuệ mất đi, em suýt làm đứa ăn xin thì trời lại đem anh tới với em và chị Hồng. Nếu anh còn thương em thì đừng bao giờ bắt em phải sống xa chị Hồng.
Em út mặt vào hai tay khóc nức nở. Tôi lặng người vì xúc động. Tôi bảo nhỏ:
- Thanh, em đừng khóc nữa. Thôi, chuyện đó sẽ tính sau, bây giờ em cứ ở nhà, hai anh em mình cố săn sóc cho chị Hồng mau bình phục.
Thanh vâng lời, lau khô nước mắt, ngước lên hỏi tôi:
- Có phải anh ở luôn để săn sóc chị Hồng hay không? Nhưng anh là sĩ quan mà. Mấy bữa ni, anh dặn răng thì em làm theo rứa nhưng chẳng hiểu tại sao. Có phải anh trốn về phải không?
Qua mấy năm sống tại thủ đô, em đã nói rặt giọng Sài gòn nhưng khi nào cần tỏ sự thân mật với Thu Hồng và tôi thì em thường pha một số từ của xứ Huế vào, nghe thực buồn cười và dễ thương. Lời nói của em làm tôi suy nghĩ và thấy rằng em đã đủ trí khôn nên phải nói toàn bộ sự thực cho em hiểu để em có thể ứng xử khi cần thiết. Tôi nói:
- Đúng là anh trốn về đây để săn sóc chị Hồng và đang bị truy nã. Người ta đang truy nã anh không phải như kẻ hèn nhát đào ngũ để tránh cái chết mà còn nghiêm trọng hơn nữa. Anh bị nghi ngờ đã đầu hàng giặc và làm tay sai cho chúng nó. Vì vậy, anh quyết định về đây là nơi vắng vẻ, tuy nhiên không có chỗ nào được gọi là an toàn đối với an ninh quân đội. Nếu anh bị bắt thì chắc chắn không còn có dịp gần gũi và săn sóc chị Hồng của em nữa. Binh sĩ đào ngũ thì bị đưa đi làm khổ sai tại các trại lao công đào binh, còn sĩ quan như anh thì bị đưa ra tòa án quân sự và lãnh án rất nặng.
Tôi ngừng nói vì thấy vẻ căng thẳng quá mức trên nét mặt thơ ngây của em. Tuy nhiên tôi phải tiếp tục trình bày. Trong tình thế nầy, em không còn được phép sống với tâm hồn trong sáng của trẻ thơ nữa mà cần phải hiểu biết như một người lớn. Vì thế, tôi nói tiếp:
- Nếu bị truy đuổi gắt gao, anh có thể lánh mặt một ít lâu và trao hết bổn phận săn sóc chị Hồng cho em. Em có hiểu hết lời anh nói không?
Thanh chăm chỉ nghe và se sẽ gật đầu. Tôi tiếp tục dặn em sự đối phó khi gặp những trạng thái xấu và bất ngờ. Nét mặt em bớt căng thẳng nhưng trông hết sức buồn bã. Cuộc chiến tranh “giải phóng” đã cướp mất tuổi thơ của em rồi. May là em đã gặp những tấm lòng tốt sẵn sàng đùm bọc em. Nhưng những tấm lòng tốt đó làm sao chống lại nỗi ảnh hưởng bạo tàn của chiến tranh. Tôi nghe giọng em nói nho nhỏ thực dễ thương:
- Em thường hãnh diện với bạn học của em vì có một người anh là sĩ quan đang chiến đấu ngoài mặt trận. Bây giờ không còn như thế, nhưng em lại được sung sướng vì anh không còn bỏ em và chị Hồng mà đi nữa.
Tôi mỉm cười, lòng được an ủi vì lời nói thơ ngây nầy. Tôi đứng dậy, lên ngồi nói chuyện với Thu Hồng. Tôi không đả động gì đến chuyến về Sài gòn của Thanh mà chỉ tìm những đề tài vớ vẩn, vui vui để kể cho nàng nghe.
Những ngày sau đó trôi qua một cách bình thản. Chiếc radio-cassette đã có pin được mua về, bắt đầu lên tiếng. Tôi cho phát những bản nhạc êm dịu, Thu Hồng lắng tai nghe. Tiếng nhạc mang không khí vui tươi và đầm ấm đến cho gian nhà bé nhỏ. Buổi tối, tôi bắt các sóng phát thanh để nghe tin tức. Tôi lo lắng vì những bất lợi của phía quốc gia trên nhiều chiến trường nhất là ở vùng Một Chiến thuật, qua làn sóng của các đài ngoại quốc.
Các dụng cụ làm vườn đã có đầy đủ, tôi bắt đầu dọn sạch cỏ quanh nhà. Mới có ba hôm mà đã thấy khang trang hẳn ra. Tôi dùng cuốc xới một vùng phía trước, cách thềm nhà độ năm thước. Đó là vườn hoa của Thu Hồng. Ngày mai tôi lại đi Thủ đức để tìm mua những hạt giống về gieo lên đó.
Đi ra khỏi nhà, dù chỉ trong chốc lát là điều rất miễn cưỡng đối với tôi. Tôi biết là lệnh truy nã đặc biệt đã được gởi đi khắp nơi và luôn có cảm giác cái lưới khổng lồ đang rình rập quanh đây, có thể chụp xuống đầu tôi bất cứ lúc nào. Tôi nhớ da diết những đường phố Sài gòn, ở đó có biết bao kỷ niệm của những năm còn cắp sách đến trường. Mùa mưa đã đến từ lâu, tôi thương nhớ những con đường sũng nước, những giọt mưa rơi xuống làm vỡ vụn ánh đèn đường bên trên rọi xuống. Nhớ nhung thì mặc nhớ nhung, tôi vẫn không dám trở về, dù chỉ trong chốc lát. Tấm thân tôi chẳng còn bao nhiêu giá trị nữa, nhưng hiện tại rất cần thiết cho Thu Hồng. Vì nàng, chỉ vì nàng mà tôi cần bảo vệ cẩn mật tấm thân đó.
Một hôm, năm ngày sau khi chúng tôi về đây, đang cuốc đất tôi thấy một người đàn ông từ hướng xa lộ xăm xăm bước đến. Chưa kịp nhận định đây là hạng người nào, tôi vội vứt cuốc, bước nhanh vào nhà. Tôi biết chắc ông nầy có ý định vào nhà tôi vì con đường trước mặt không dẫn đi đâu khác nữa. Tôi hết sức lo lắng. Ông ta là ai, vào đây để làm gì? Có phải ông ta đi tìm tôi vì tôi đã bị lộ tông tích? Tôi có còn được ở yên để săn sóc Thu Hồng nữa hay không?
Tốt hơn hết là tôi không nên gặp ông ta ngay mà gọi Thanh, bảo ra hỏi trước rồi sau đó tôi sẽ tùy sự việc xảy ra mà đối phó. Thanh biết ý chạy ra ngay, tôi đến ngồi bên Thu Hồng hồi hộp chờ đợi. Tôi lắng nghe tiếng Thanh và người lạ nói với nhau nhưng khoảng cách khá xa nên không hiểu gì cả. Vài phút sau, Thanh đi vòng bên hông nhà vào bếp. Tôi vội bước xuống hỏi nhỏ:
- Ai vậy?
- Ông nông dân ở xóm trong.
- Ông định vào nhà mình phải không?
- Dạ phải.
Tôi sốt ruột hỏi dồn:
- Em nói thế nào với ông ấy?
- Em hỏi ông muốn đi kiếm ai. Ông bảo thấy gia đình mới đến nên muốn vào thăm.
- Rồi em nói thế nào mà ông ta bỏ đi?
- Em nhớ lời anh dặn cố ngăn không cho ai vào nhà nên em bảo rằng chị em đang bệnh, bác sĩ không cho gặp người lạ, có thể nguy hiểm. Ông ta ngạc nhiên hỏi tại sao. Em không biết giải thích thế nào nên đưa tay chỉ vào đầu mình. Ông ta gật gù bảo: “Bị điên hả? Hèn chi, cái chú đang cuốc đất thấy tôi đến vội chạy vào để giữ người điên. Người điên thì hung dữ và nguy hiểm thật. Thôi qua về nghe cháu. Qua ở xóm trong, rảnh vào chơi”. Nói xong, ông ta vội vã trở lên xa lộ để đi vòng qua phía khác. Thỉnh thoảng ông ấy lại quay mặt lui, lấm lét nhìn vào nhà mình.
Nghe em nói tôi cười thầm, định khen em thông minh và khôn ngoan, nhưng tôi ngạc nhiên thấy vẻ giận hờn trên khuôn mặt thơ ngây của em. Thanh nhìn tôi với vẻ bất mãn và nói tiếp:
- Anh Hưng, nghe ông ấy bảo chị Hồng bị điên, em tính cự lại. Em chỉ lên đầu là muốn nói chị bị tai biến ở não, ai dè ông ta lại hiểu bậy bạ. Thiệt là tức, cái ông vô duyên!
Tôi an ủi:
- Họ hiểu như vậy càng hay, chúng ta yên thân hơn.
- Nhưng mà tội cho chị Hồng lắm.
Thấy em sắp khóc, tôi bảo:
- Em đừng giận nữa, đi nấu cơm đi.
Nói xong, tôi ra vườn tiếp tục công việc.
Mấy hôm sau, đúng hẹn, Thanh về Sài gòn để gặp Thịnh tại nhà vì hôm nay là ngày chủ nhật. Em cũng thích như thế vì sợ vào trường gặp lại bạn bè và thầy cô. Tội nghiệp cho em! Buổi trưa, em trở về mang theo theo một xe lăn, đúng với lời hứa của Thịnh. Chiếc xe mới toanh và rất đẹp, thuộc loại đắt tiền, các gọng sắt xi bóng loáng, ghế ngồi và ghế dựa thực êm ái. Tôi lại bồi hồi cảm động vì lòng tốt của bạn bè.
Tôi đặt xe giữa nhà, đến đỡ Thu Hồng ngồi dậy trên giường. Nàng trố mắt nhìn sững, trên khuôn mặt xinh đẹp, lồ lộ nỗi hân hoan không bút nào tả xiết. Tôi vuốt tóc nàng, âu yếm:
- Em thích xe nầy phải không?
Nàng gật đầu liền mấy cái, rồi ngước mắt lên nhìn tôi với cặp mắt hỏi han. Tôi đặt câu hỏi giùm nàng:
- Có phải em muốn nói ở đâu ra chiếc xe nầy phải không?
Nàng gật đầu. Tôi trả lời:
- Anh mua để làm quà sinh nhật cho em đó. Ngày mai là sinh nhật, em có nhớ không?
Nàng gật đầu, rưng rưng nước mắt. Tôi đã nói dối vì chưa dám nhắc đến đồng nghiệp và trường cũ của nàng.
Tôi bế nàng đặt lên xe. Nàng ngồi lọt thỏm bên trong một cách thoải mái, chân buông thỏng phía trước, hai tay đặt lên chỗ dựa êm ái. Tôi đứng phía trước, khom người ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của nàng. Nàng cười, đôi môi mấp máy. Nàng đang muốn nói với tôi. Tôi bước lại gần, cúi xuống:
- Em cảm ơn anh, phải không?
Nàng gật đầu, tôi nói tiếp:
- Em đền ơn anh đi.
Tôi cúi sát xuống để nàng hôn vào mặt tôi. Tôi ngẩng lên nhìn sắc mặt hồng hào của nàng, tôi vui sướng và tự hài lòng về quyết định chọn chốn nầy làm nơi dưỡng bệnh cho nàng. Mới có mười ngày về đây thôi, sắc diện nàng đã khá hơn rõ rệt. Nhờ sự yên tĩnh và không khí trong lành, nàng ăn ngon, ngủ ngon, đôi mắt sáng hơn và nụ cười tươi hơn. Mỗi ngày hai lần, tôi pha thuốc và đưa đến tận môi. Nàng ngoan ngoãn uống xong rồi nhăn mặt như một đứa trẻ thơ. Trong ngày, tôi ngồi bên nàng nhiều giờ. Theo lời dặn của bác sĩ, tôi luôn xoa bóp tay chân để kích thích các dây thần kinh bên trong. Hai tay có dấu hiệu phục hồi, mười ngón tay đã cử động được theo ý muốn, cánh tay nhấc lên được tí xíu trong một hai giây. Dấu hiệu phục hồi cũng thấy được ở cổ. Khi ngồi, nàng có thể giữ đầu thẳng đứng khá lâu trước khi dựa vào gối kê. Bên dưới thì chưa thấy dấu hiệu gì. Trong bàn tay tôi, hai chân vẫn còn mềm nhũn, co duỗi một cách thụ động theo tay tôi. Cứ mỗi lần sờ đến đôi chân nầy, lòng tôi lại lặng đi trong nỗi xót thương cùng cực.
Đôi chân nầy đang buông thỏng một cách tội nghiệp trên xe lăn. Tôi lấy một cái gối kê vào bên dưới để hai bàn chân bất động của nàng tựa lên trên.
Tôi quá phấn khởi, định đẩy xe nàng ra ngoài thì Thanh chận lại:
- Anh Hưng, trời nắng lắm. Để chị Hồng dạo trong nhà được rồi. Anh xem thư của thầy Thịnh đây. Có cả tiền nữa.
Tôi dừng lại, nực cười cho mình. Tôi đã ngày đêm mơ ước chiếc xe nầy để đưa Thu Hồng đi chơi. Ước mơ đã thành sự thực nên tôi quên mọi chuyện khác. Tôi nhận bao thư, bóc ra đọc ngay. Trước hết, vợ chồng Thịnh và cả trường thăm hỏi Thu Hồng. Sau đó, Thịnh báo cho biết đã có người chịu mua căn nhà của tôi. Vừa mới treo bảng bán nhà là có nhiều người đến hỏi vì người ta đổ xô về Sài gòn do chiến tranh đang trở nên ác liệt, nhất là ở vùng Một Chiến thuật, cao nguyên và các tỉnh miền Đông. Thịnh gởi cho tôi số tiền ứng trước của người mua. Trong vòng nửa tháng, giấy tờ xong, người ta sẽ giao nốt số tiền còn lại.
Tôi đọc lá thư cho Thu Hồng và Thanh nghe. Cuộc sống vật chất của chúng tôi, trước mắt không còn gì đáng lo nữa. Số tiền kia, tôi sẽ nhờ Thịnh gởi vào quỹ tiết kiệm để hàng tháng rút tiền lời ra tiêu dùng. Nếu có thâm vào vốn thì cũng ít thôi. Tôi nhẩm tính, nếu vật giá không leo thang đột ngột thì gia đình nhỏ gồm ba người chúng tôi có thể sống được ba năm. Trong thời gian nầy, nhất định tôi sẽ tìm ra một cách sống nào đó. Tôi hi vọng sự truy nã tôi sẽ bớt gay gắt và tôi sẽ kiếm được một công việc vào ban đêm như làm việc cho các lò bánh mì, quét dọn chợ và đường phố trong những giờ thiên hạ yên giấc. Tôi bằng lòng làm bất cứ việc gì để có thể nuôi sống Thu Hồng và em Thanh của chúng tôi.
Tôi cất thư và tiền vào rương rồi đẩy xe chở Thu Hồng đi khắp nhà. Tôi dừng lại ở cửa trước để nàng nhìn ra hướng xa lộ, tôi lại đẩy nàng xuống bếp để quan sát Thanh đang lo bữa ăn trưa. Nàng tỏ ra rất thích thú, y như một đứa trẻ được đi du lịch nơi xa lạ.
Trưa hôm đó, nàng ngồi xe và cùng dùng bữa với chúng tôi tại bàn. Trước mặt tôi là hai chén cơm với một đôi đũa cho tôi và một cái muỗng dùng để đút cơm cho nàng. Ăn xong, tôi bế nàng lên giường và xoa bóp cho tới lúc nàng ngủ say.
Buổi chiều, trời đổ cơn mưa, tôi không đưa nàng ra bên ngoài chơi được nên hẹn sáng hôm sau.
Kể từ ngày hôm đó, với chiếc xe lăn, nàng dạo chơi khắp nhà và chỉ lên giường lúc đi ngủ. Mặt tiền nhà quay về hướng tây nên buổi sáng nàng ngồi chơi phía trước, buổi chiều thì sau nhà. Tôi để xe trong bóng im rồi cuốc đất, làm cỏ hay trồng cây trước mặt nàng. Kế cận bên xe là một chai nước với một cái ly. Chốc chốc, tôi nghỉ tay đến ngồi bên nàng rót nước uống. Một lần nàng ra hiệu muốn uống chung ly nước với tôi. Tôi chiều ý nên mỗi lần giải khát, tôi đều đưa ly nước đang uống đến môi nàng. Nàng vừa uống vừa nhìn tôi một cách âu yếm.
Tôi tìm cách cột chiếc radio-casette nơi thành xe, kế bên tay vịn. Nàng tỏ vẻ thích thú khi nhạc trổi lên. Tôi ghi nhận, trong khối óc của nàng, thêm một biến chuyển mới, sự phục hồi khả năng thưởng thức âm nhạc. Mỗi biểu hiện tiến triển nào nơi nàng cũng là một niềm hạnh phúc của tôi, niềm hạnh phúc thực ý nghĩa trong cái nghịch cảnh nầy.
Không bao lâu, trong vườn hoa trước sân đã có những chồi non mọc lên. Tôi cẩn thận nhổ cỏ dại để bảo vệ những chồi non quý giá đó. Tôi tưởng tượng vài tuần lễ nữa, những bông hoa sẽ khoe sắc thắm trước mặt nhà để góp phần sắp xếp lại những đường dây thần kinh trong khối óc đáng thương của nàng.
Mùa mưa vừa chấm dứt, mùa nắng bắt đầu, tôi không xúc tiến công việc trồng cây ăn trái ở sau vườn, dồn hết sức lực để tưới và săn sóc vườn hoa của Thu Hồng. Rồi gió bấc thổi về báo hiệu cái Tết cổ truyền đang đến.
Từ sau Tết Mậu thân đẫm máu, tôi chưa bao giờ được thưởng thức Tết tại Sài gòn, vì cứ đến trước Tết là tất cả đơn vị đều nhận được lệnh cấm trại và túc trực ứng chiến, đề phòng quân địch tái diễn trò “tổng tấn công nổi dậy”. Năm nay, không còn ở trong quân đội nữa, tôi mong hưởng được một cái Tết tưng bừng và rực rỡ như khi còn đi học.
Tuy nhiên, điều mong ước đơn sơ đó càng lúc càng mỏng manh. Bước vào đầu năm, tình hình trở nên nặng nề, Sài gòn không còn cảm tưởng đứng bên ngoài cuộc chiến tranh ở xa xôi nữa. Tin tức chiến sự dồn dập bay về trên những trang nhật báo và qua các làn sóng truyền thanh. Cộng quân tấn công khắp nơi và thu được nhiều thắng lợi. Một tháng trước Tết âm lịch, tỉnh lỵ Phước long thất thủ. Mặc cho những lời giải thích và trấn an của chính phủ, không khí hoang man tràn ngập khắp Sài gòn. Rồi bản cáo trạng chống tham nhũng của một số tu sĩ, chụp lên Hòn ngọc Viễn đông một màn đen u ám. Vùng an ninh chung quanh thủ đô bị thu hẹp vì du kích thừa cơ tăng cường hoạt động. Điều nầy gây nên nỗi lo âu to lớn cho sự sống của gia đình nhỏ bé của tôi.
Vài tháng đầu về đây, tôi chỉ chú tâm lo sự truy nã của an ninh quân đội mà quên rằng du kích cộng sản cũng là một nguy cơ không nhỏ. Hiện tại, tôi là lính đào ngũ, nhưng trong quá khứ, tôi là một sĩ quan thủy quân lục chiến, kẻ thù số một của họ. Mối thù đó, dễ gì họ bỏ qua.

Hơn nữa, với bản chất đa nghi, họ đâu có sẵn sàng tin tôi đã từ giã hàng ngũ đối đầu với họ. Trong cuộc nội chiến nầy, công tác tình báo được hai bên tích sực vận dụng; ngay như thường dân cũng có không ít người làm gián điệp cho bên nầy hoặc bên kia. Chương trình Phượng hoàng do CIA tài trợ đã mua nhiều tin tức tình báo ở các cơ quan dân sự và thường dân. Hình như chương trình diệt trừ sốt rét trước đây cũng có những nhân viên làm tình báo cho chúng ta với những tin tức thực quý giá mà họ thu lượm được khi mang bình xịt DDT len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm của miền Nam. Sự hiện diện của gia đình tôi với nếp sống hoàn toàn khép kín chắc chắn gợi cho Việt cộng sự chú ý và nghi ngờ. Đối với cộng sản, dân miền Nam chỉ có hai loại, một là theo cách mạng, hai là theo địch, không có cái thứ ở giữa. Họ dễ dàng nhổ cái gai nghi ngờ trong mắt bằng bất cứ cách nào mà họ cho là tiện lợi nhất.
Nỗi lo lắng nầy trở thành sự thực trong một đêm kinh hoàng vào những ngày cận Tết. Đêm đó, tôi đang ngủ bỗng giật mình thức giấc và tỉnh táo ngay một cách khác thường. Tôi có cảm tưởng rằng linh tính đang báo cho tôi một điều hệ trọng. Quả thực, vài phút sau, tôi nghe có tiếng xào xạc từ phía sau lớn dần và trở thành những bước chân dẫm trên cỏ khô rồi trên mặt đất. Họ đang đến gần. Qua tiếng bước chân, tôi nhận ra có đến ba, bốn người hay nhiều hơn nữa. Họ dừng lại bên hông nhà, sát bên giường nằm của vợ chồng chúng tôi. Tôi mở mắt nhìn ra ngoài, qua khung cửa sổ mở rộng. Trời không trăng nhưng sáng lờ mờ, nhờ những ánh đèn của trung tâm thành phố phản chiếu trên bầu trời đầy mây.
Tôi nằm im không dám nhúc nhích, tiếng thở đều đều của Thu Hồng nghe rõ mồn một. Bên ngoài, trong tiếng côn trùng lẫn tiếng ếch xa xa, có tiếng người rù rì nói chuyện. Những người nầy là ai, phe quốc gia hay phe cộng sản? Chắc chắn không phải là lính quốc gia. Tôi biết mấy ông nghĩa quân hay địa phương quân của phe ta, giờ nầy đang ngủ với vợ hay đang núp kỹ trong lô cốt. Cũng không phải là lính chính quy đi phục kích vì bước chân mang giày ống của lính chính quy thì nặng nề chứ không nhẹ nhàng như bước chân trần hay mang dép lốp mà tôi vừa nghe. Thế thì đúng là “họ” rồi.
Tôi đã từng đụng địch nhiều lần trong những cuộc hành quân trước kia nhưng chưa bao giờ nằm gần “họ” như thế nầy. Một luồng hơi lạnh chạy dài suốt cột sống. Tôi mím môi, nắm chặt hai bàn tay cho khỏi run, cố lắng nghe tiếng rù rì bên ngoài. Hình như họ hỏi nhau có nên xông vào hay không. Tôi nghe đúng như thế hay chỉ là ảo giác nơi tai trong trạng thái cực kỳ căng thẳng?
Làm sao đây? Có nên tông cửa chạy trốn hay không? Chắc chắn họ sẽ bắn theo, tôi không sợ. Điều đáng sợ là họ sẽ xông vào nhà sau khi tôi chạy thoát hay ngã quỵ vì trúng đạn. Đáng sợ hơn nữa là trước khi xông vào họ sẽ quăng vô nhà một trái lựu đạn cho đúng với bài bản của chiến thuật quân sự, cuộc đời hai chị em ắt chấm dứt từ phút đó.
Không, tôi không thể hành động như thế được. Tôi không thể chạy trốn một mình, bỏ mặc hai chị em được. Tôi cứ nằm yên đây và họ sẽ xông vào lôi đầu dậy, tôi sẽ bị bắt đi theo để vĩnh viễn từ biệt vợ tôi? Không, tôi nhất định không bỏ Thu Hồng để cho họ dẫn đi. Tôi phải tìm cách cho họ giết cả hai vợ chồng chúng tôi một lượt ngay trong đêm nay và linh hồn chúng tôi sẽ tìm đến một nơi bình yên hơn, bên kia thế giới. Nhưng lúc đó em Thanh sẽ thế nào? Em chỉ mới mười sáu tuổi đầu mà thôi!
Tôi thở ra một hơi dài nhắm mắt lại, phó mặc cho số phận. May thay, bên ngoài, tiếng rù rì nói chuyện vẫn tiếp tục nhưng xa dần cũng lúc với tiếng chân bước về hướng xa lộ. Họ bỏ đi luôn hay sẽ quay lại và xông vào đây? Có nên bỏ trốn lúc nầy hay không? Mà trốn đi đâu? Đi ra nằm bờ nằm bụi cho đến sáng? Được rồi, không khó, nhưng khi họ sẽ xông vào mà không bắt được tôi thì Thu Hồng và em Thanh sẽ ra sao? Rồi đêm mai, đêm mốt họ phải quay lại tìm tôi, ngôi nhà nầy đâu còn là nơi trú ngụ của tôi nữa.
Quay sang nhìn Thu Hồng, tôi không thấy rõ được mặt nàng nhưng nghe hơi thở đều, tôi biết nàng không hay biết gì cả. Một lần nữa, tôi thở dài, nhắm mắt lại, phó mặc cho số phân. Tôi cố dỗ giấc ngủ để rút ngắn phần đêm còn lại, nhưng đầu óc vẫn tiếp tục căng thẳng. Gần sáng tôi giật mình khi nghe nhiều tiếng súng. Tôi tự hỏi những tiếng súng nầy có liên quan gì đến mấy người đi qua đây lúc nửa đêm hay không.
Tôi ngồi dậy trong bóng đen vẫn còn dày đặc trong nhà. Bằng trí tưởng tượng, tôi nhìn thấy khuôn mặt của Thu Hồng, mỹ miều, hiền lành và bình an trong giấc ngủ. Tôi muốn cúi xuống hôn nhưng sợ làm kinh động nên thôi. Tôi nhẹ nhàng vén mùng bước xuống giường, lặng lẽ đến đứng tựa cửa sổ nhìn ra ngoài. Bóng đêm vẫn còn ngự trị khắp nơi, bầu trời đầy sao lấp lánh. Từ hướng trong xóm, tiếng gà gáy dồn dập nghe lanh lãnh, báo hiệu bình minh đang tới. Ngoài xa lộ có tiếng máy của một xe vận tải đầu tiên, từ phía Sài gòn đến, lướt ngang qua và thẳng về Biên hòa. Tôi vẫn đứng yên, lòng đầy phiền muộn, cho đến khi những vì sao mờ nhạt dần vì những tia sáng từ chân trời phía sau vọt lên. Có lẽ những người kia không trở lại đây nữa, họ đã đi luôn hoặc đã lộn về bằng con đường khác. Tôi hít mạnh không khí trong lành của ban mai để xua đi nỗi lo lắng trong đêm.
Khi trời vừa sáng tỏ, tôi khe khẽ mở cửa ra ngoài và thấy ngay những dấu chân khác nhau từ phía sau đi tới, hiện rõ trên nền đất ướt bên hiên nhà do Thanh tưới đẫm lúc chiều để tránh bụi bặm khi gió bắt đầu thổi mạnh. Có những dấu chân trần lẫn chân di dép, đúng như tôi đã nhận ra trong đêm khuya.
Trong lòng tôi, nỗi buồn phiền và lo lắng lại kéo đến. Tôi cảm thấy bị bao vây giữa hai gọng kềm của hai phía. Tôi muốn yên thân để săn sóc người vợ trẻ tật nguyền, nhưng cả hai bên thù địch không cho phép tôi được làm cái công việc hiền hòa và vô hại đó.
Tôi bước ra sau nhà, nhìn sâu vào phía trong. Xóm làng đang ngủ im lìm. Tôi biết phía sau xóm làng đó là vùng oanh kích tự do và bên kia sông Đồng nai là nơi họ đã từng đặt những giàn phóng hỏa tiễn để gởi cho cư dân thành phố những quà tặng chết người. Tình hình chiến sự càng nặng nề thì dưới cái vỏ bình yên và hiền lành của xóm làng trong đó, những đợt sóng ngầm kinh sợ càng trở nên sôi động. Tôi phải tính thế nào đây cho cuộc sống của cái gia đình bé nhỏ của tôi?
Từ những năm trước, tôi đã xông vào ngay trung tâm của cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng tôi có vũ khí trên tay để tự bảo vệ mình, chung quanh tôi có đồng đội để bảo vệ lẫn nhau. Từ nhiều tháng nay tôi đã trốn chạy một cách hèn nhát, tưởng rằng mình đã từ bỏ được chiến tranh, chỉ còn tránh được sự truy nã của an ninh quân đội nữa là xong. Cảm tưởng đó từ nay không còn nữa. Ở đây, tôi vẫn còn nằm trong bàn tay lông lá của cuộc chiến, không biết ngày nào nó bóp lại để giải thoát cho tôi và Thu Hồng khỏi những bi lụy của trần gian nầy. Tôi phải làm gì đây? Câu hỏi nầy không lúc nào rời trí óc tôi. Trước mặt Thu Hồng, tôi cố giữ vẻ bình thản nhưng lòng tôi luôn luôn nặng trĩu lo âu. Những lúc nàng ngủ, tôi thường đi lui, đi tới trong nhà để tìm biện pháp đối phó nếu họ trở lại gọi cửa hoặc xông vào ban đêm.
Trước tiên, tôi nghĩ đến việc làm một trần nhà và khi họ đến, tôi sẽ leo lên ẩn núp trên đó. Tuy nhiên, tôi nhanh chóng bỏ ngay định nầy vì một cái trần khá vững chắc trong nhà lá nghèo nàn nầy thì không thích hợp và dễ gây nghi ngờ. Vả lại, điều nầy làm tôi nhớ lại câu chuyện rùng rợn và thương tâm ở quê, lúc tôi còn bé. Đó là cái chết của ông xã trưởng, bà con xa với mẹ tôi.
Nhà ông xã trưởng to nhất trong làng. Một ngôi nhà vách gạch, mái ngói, trần làm bằng ván ghép kín công phu, với một lỗ thông trong buồng ngủ. Ông cán bộ quốc gia nầy chỉ về nhà ban ngày còn ban đêm thì lên ngủ tại trụ sở xã hay đồn bảo an.
Một hôm, ông về nhà ngủ với vợ. Chắc chắn, có người đã báo cho phía cách mạng biết nên đến khuya, họ về kêu cửa. Vợ ông vừa đốt đèn lên và rút chốt là họ xông vào ngay, súng lăm lăm trong tay, hét to gọi ông ra đầu hàng. Không thấy ông xuất hiện hoặc nghe ông trả lời, họ đi lục soát khắp mọi nơi, kéo cả giường ra để tìm dấu vết hầm bí mật bên duới nền nhà. Họ nói với nhau rằng nhất định ông không thể thoát ra vì ngõ trước, ngõ sau đều đã bị bao vây.
Bỗng có tiếng động bên trên làm họ giật mình, lập tức cùng ngẩng mặt lên nhìn. Một người trong bọn họ chĩa súng vào chỗ có tiếng động và siết cò. Một loạt tiếng nổ vang lên làm thủng nhiều lỗ trên trần. Có một tiếng thét và tiếng dãy đùng đùng rồi, từ những lỗ đạn, máu bắt đầu nhiểu xuống. Khi họ tìm được lỗ thông trong buồng và lên kéo xuống thì ông xã trưởng chỉ còn là cái xác đẫm máu.
Câu chuyện rùng rợn nầy xảy ra đã hơn một chục năm, nay bỗng dưng hiện rõ trong trí não làm cho tôi dứt khoát bỏ ý định làm trần trong nhà tôi. Nếu không thăng thiên được thì độn thổ, tôi nghĩ đến một hầm bí mật trong nhà. Tôi nhìn quanh để tìm vị trí. Không nơi nào tốt hơn là ngay bên dưới giường vợ chồng tôi. Một cái hầm tròn vừa một người ngồi với một nắp đậy, bên trên chất đầy những vật dụng nhẹ như rổ rá, bao bị, cuốc xẻng, vân vân. Nếu họ đến, tôi chui vào hầm ngay và em Thanh sẽ nói với họ rằng tôi đã về Sài gòn từ lúc trưa. Đó không phải là giải pháp toàn hảo nhưng biết làm thế nào hơn đưọc. Tôi suy nghĩ cách thực hiện. Nhà nền đất, đào một hầm nhỏ không khó khăn gì; nhưng điều gay go là phải tạm thời dời giường sang một bên, chắc chắn làm kinh động Thu Hồng, điều cần phải tránh trong thời gian cần sự yên tĩnh để nàng hồi phục các chức năng. Vì vậy, tôi lần lữa mãi mà chưa dám xúc tiến.
Rồi ngày Tết Ất Mão 1975 từ từ đến. Đây là cái Tết đầu tiên tôi ở bên Thu Hồng, nhưng tôi không còn hứng thú sắm sửa cho cái Tết sum họp của vợ chồng chúng tôi nữa. Tôi quyết định cho những ngày Tết cổ truyền lặng lẽ trôi qua. Quyết định nầy gây cho tôi cực lòng nhưng tôi tự an ủi là làm như thế có lợi cho Thu Hồng hơn. Trong những tháng qua, tôi luôn luôn tìm cách kích thích trí nhớ trở lại trong đầu nàng, nhưng ký ức về cái Tết thì tôi tìm cách xóa bỏ hay ít nhất là che đậy không cho hiện ra trong ý thức của nàng.
Theo lời em Thanh kể lại, trong những ngày Tết trước đây, hai chị em thường nhắc lại nỗi kinh hoàng của cái Tết Mậu thân ở quê nhà và ôm nhau khóc. Ngày mồng mười tháng giêng âm lịch được hai chị em chọn làm ngày giỗ cho cha và hai anh. Thời gian trôi qua đã không làm vơi nước mắt của hai chị em trong ngày nầy. Trong giai đoạn phục hồi tâm trí hiện nay, Thu Hồng ắt phải nhạy cảm với nỗi bi thương to lớn đó. Để cho kỷ niệm nầy chìm sâu sau bức màn che là điều hợp lý.
Ý kiến này của tôi cũng được Thanh đồng ý ngay. Tuy nhiên, chiều ba muơi Tết, tôi bắt gặp em đứng sau hiên nhà bếp, tay cầm mấy cây nhang đang cháy hướng về phương bắc vái lạy rồi thụp xuống đất khóc nức nở. Cảnh đó lại diễn ra lần thứ hai vào sáng mồng mười Tết. Hôm đó, tôi đứng sau lưng em, lòng bồi hồi cảm động. Khi ngẩng lên thấy tôi, Thanh vội lau nước mắt:
- Anh Hưng, đây là cái Tết thứ sáu, em và chị Hồng lìa xa quê hương. Tết nào anh cũng ở đơn vị, chỉ có hai chị em với nhau, buồn lắm. Chị Hồng có một nguyện ước là trở về Huế, tìm lại hài cốt của bác Tư và của anh Trí anh Tuệ, đem táng chung chỗ với bác gái. Chị Hồng bảo ngày đêm cầu nguyện hòa bình để anh về cùng đi với chị. Em có nói rằng em lớn rồi, chị cùng đi với em cũng được. Chị Hồng cương quyết không chịu. Chị bảo anh là người duy nhất có thể giúp chị đứng vững khi trở về chốn cũ. Nhớ lại chuyến về năm xưa, vừa xuống xe là ngất đi, chị Hồng còn hoảng sợ. Chị bảo đi với anh, dù đến chân trời góc biển nào chị cũng vững lòng.
Thanh ngừng lại chớp mắt rồi nhìn tôi nói tiếp:
- Anh Hưng, em còn nhỏ chưa biết gì về các gia đình khác, nhưng em nghĩ rằng không ai thương chồng như chị Hồng và không ai thương vợ như anh. Có phải vậy không, anh Hưng?
Tôi gật đầu chứ biết nói gì hơn.

Thu Hồng không hay biết gì về cái Tết vừa đi qua. Ngày ngày, nàng vẫn được đẩy chơi quanh nhà, ngồi trên xe nghe nhạc và nhìn tôi làm vườn. Nàng cũng bắt đầu tập nói. Tôi chỉ những vật cụ thể trước mắt và kiên nhẫn dạy cho nàng nói tên những vật đó. Nàng cũng tỏ ra cố gắng phát âm một cách khó khăn. Giọng nói mượt mà như nhung của cô gái Huế trước kia hoàn toàn biến mất. Bây giờ là âm thanh khó nghe, vừa khàn vừa đục, bời rời từng tiếng một. Nghe những tiếng đó phát ra từ miệng nàng, tôi vui mừng vô kể mà sao nước mắt cứ chực trào ra.
Sau Tết, cuộc sống kéo dài êm ả, ngày qua ngày. Những bước chân trong đêm không thấy trở lại nữa, sự lo lắng của tôi cũng nhẹ dần và được thay thế bằng sự ưu tư về tình hình quân sự và chính trị. Hàng ngày, tôi nghe tin tức đài Sài gòn, hàng đêm bắt đài ngoại quốc; mỗi ngày, đi chợ, Thanh đều mua nhật báo cho tôi. Tôi theo dõi từng bước tiến của cộng quân, từng bước lùi của quân đội quốc gia. Nhũng trận đánh đẫm máu ở Cao nguyên dẫn đến sự di tản thảm thương của đoàn người tơi tả làm chấn động hàng triệu triệu tấm lòng ở khắp mọi nơi. Quảng trị thất thủ, rồi Huế, quê hương yêu dấu của Thu Hồng được “giải phóng” lần thứ hai và vĩnh viễn cam chịu số phận của mình.
Những tin tức nầy, tôi giấu không cho Thu Hồng biết; tôi phải chịu đựng một mình nỗi đau đớn trong lòng.
Nỗi đau đớn đó dâng lên cực điểm với tin tức về cảnh hỗn loạn trên bờ cát Thuận an. Các đơn vị quân đội hoàn toàn tan rã; người ta, lính lẫn thường dân, tranh nhau lên tàu để trốn tránh họa cộng sản. Trong cảnh cùng cực nầy, một số quân nhân đã trút sự nhục nhã, sự căm tức, sự sợ hãi lên đầu dân chạy nạn. Họ bắn giết, cướp bóc, hành hạ dân vô tội, những người mà không lâu truớc đây họ còn mang sinh mạng mình ra để bảo vệ. Đau đớn thay, những quân nhân mất cả nhân tính đó lại là những người lính thủy quân lục chiến, đồng đội cũ của tôi!
Sau Huế, các tỉnh miền Trung nhanh chóng bị thất thủ. Qua đến tháng tư, tình hình hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi đau đớn trong lòng tôi, không biết tự lúc nào trở thành nỗi ngao ngán chiến tranh. Chúng ta không đủ sức đuổi quân xâm lược về bắc thì thôi, để họ chiếm cả miền Nam cho rồi. Tôi thực sự mong chiến tranh sớm chấm dứt. Hòa bình trước đã rồi miền Nam nầy ra sao cũng được. Vì vậy, khi cộng quân phá vỡ phòng tuyến cuối cùng ở Long khánh, tôi không còn đau xót nữa mà có phần mừng rỡ là khác.
Thôi, số phận miền Nam đã được định đoạt, Việt Nam Cộng hòa sắp bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới. Hòa bình sắp trở lại, tôi cam chịu kiếp sống hẩm hiu của hơn hai mươi triệu người bại trận. Nhưng tôi sẽ được tiếp tục gần gũi Thu Hồng, không còn phải lo quốc gia truy nã, không còn phải lo cộng sản bắt trói dẫn đi vì nghi ngờ là gián điệp.
Tôi thực sự mừng rỡ khi nghe qua làn sóng của đài phát thanh Giải phóng, một thông cáo của chính phủ cộng sản lâm thời ở miền Nam, được nhắc đi nhắc lại với lời lẽ thực tốt đẹp, thực nhân đạo. Tôi cố vin vào đó để hi vọng những ngày bình yên sắp tới, một cuộc sống an lành cho Thu Hồng và cho tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục ở lại đây hoặc đem Thu Hồng về một nơi nào đó, ra sức làm thuê làm mướn để nuôi nấng và săn sóc nàng cho đến ngày bình phục.
Tuy nhiên, đã từng là người lính trên chiến trường, tôi biết rằng hòa bình không đến nhẹ nhàng như chiếc lá rơi. Quả thực vậy, sau khi tuyến lửa Phan rang và Long khánh bị vỡ thì chiều ngày 28 tháng tư, một phòng tuyến được gấp rút thành lập ở Thủ đức với nhiều xe tăng và trọng pháo rầm rập bố trí trên xa lộ. Tôi gấp rút đào một hầm trú ẩn ngay giữa nhà. Tôi biết điều nầy bất lợi cho tâm trí của Thu Hồng, nhưng không thể làm khác hơn được. Tôi chờ đợi một trận đánh lớn ngay đêm nay. Tôi đã biết quá rõ hỏa lực của phe cộng hòa; tôi cũng đã từng nếm hỏa lực của phe cách mạng nên tôi tự hiểu rằng cái hầm trú ẩn trong nhà không đủ sức che chở cho chúng tôi, nhưng có còn hơn không. Tôi sẽ bế Thu Hồng xuống hầm ngay sau tiếng nổ đầu tiên và khu nầy sẽ bị rải thảm với hàng ngàn viên đại pháo của cả hai bên.
Tôi để ý xem nét mặt của Thu Hồng, thấy sự lo lắng hiện rõ trong cái nhìn. Nàng đã nhận ra tình hình nghiêm trọng. Trong vùng ý thức hạn hẹp vừa được mở lại, ắt hẳn không tránh khỏi những hình ảnh ghê rợn mà nàng đã chứng kiến năm xưa. Vì vậy tôi bỏ hẳn công việc làm vườn để gần gũi nàng từng giờ, từng phút. Tôi cố trấn an nàng bằng những chuyện vui đùa, nhưng tôi cũng nhận ra rằng chính giọng nói của mình không còn tự nhiên như những ngày trước nữa.
Cả đêm hôm đó tôi không ngủ, nằm lắng nghe động tĩnh bên ngoài. Tiếng xe tăng rú lên từng chăp, tiếng xích sắt khua trên mặt lộ, đó đây từng loạt đạn lẻ tẻ vang lên. Nhưng trận chiến lớn không nổ ra, một đêm bình yên lại đi qua trong gian nhà nhỏ của chúng tôi.
Rạng ngày, nhìn ra xa lộ, tôi thấy vắng tanh, không còn bóng dáng của chiếc xe bọc thép nào, chỉ có rải rác vài chiếc xe dân sự hướng về thành phố. Tôi phải dụi mắt nhiều lần để yên trí mình không trông nhầm. Tôi lắc đầu, không thể hiểu nổi quân đội cộng hòa đang chơi cái chiến thuật gì đây. Nhưng dù sao tôi cũng thở dài nhẹ nhõm vì nơi đây không được hai bên chọn làm địa điểm cho một trận huyết chiến cuối cùng. Tuy thế, tôi cũng chưa vội lạc quan vì biết rằng cái điều khủng khiếp vẫn còn lơ lửng đâu đây, có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Thôi đành mặc kệ cho sự rủi may, mặc kệ cho bánh xe lịch sử, mặc kệ cho số phận an bài của nhân dân miền Nam. Phần tôi là chỉ lo cho cuộc sống mong manh của Thu Hồng mà thôi.
Cái hầm trú ẩn choáng hết phần trống của gian nhà không còn chỗ cho xe lăn của Thu Hồng nên nàng đành nằm trên giường, tôi ngồi kế bên trò chuyện.
Đêm kế đó, tôi ngủ say vì suốt đêm hôm trước không hề chợp mắt. Đến sáng, tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng xe ồn ào trên xa lộ. Tôi vội bước xuống giường và mở cửa chạy ra. Tôi lại dụi mắt nhiều lần, sửng sốt nhìn về phía trước. Những chiếc quân xa do Liên xô chế tạo chở đầy binh sĩ phủ lá cây, nối đuôi nhau chạy về trung tâm thành phố. Tôi gục đầu vào bệ cửa, nghe một nỗi đau đớn cực kỳ to lớn dậy lên trong lòng.
Xong rồi, đây là giờ phút cuối cùng của một đất nước với tất cả sự xấu xa và tốt đẹp của một xã hội con người! Hết rồi, cuộc sống quen thuộc đã ấp ủ trọn tuổi thơ của tôi! Thôi rồi, những kỷ niệm một thời chinh chiến, cùng đồng đội thề lấy da ngựa bọc thây ngoài chiến địa! Tôi đã ngỡ rằng mình sẵn sàng chấp nhận hòa bình với bất cứ giá nào, nhưng bây giờ, ở cái giờ phút thiêng liêng nầy, lòng tôi không giản dị như thế.