Bác
tài cho xe chạy càn lên cỏ và dừng lại bên thềm nhà.
Bác bước xuống xe, chạy vội ra sau, nhanh nhẹn mở cửa
để tôi bế Thu Hồng ra. Thanh đã xuống trước, mở rộng
cửa gian nhà. Tôi bước vào, thấy dễ chịu vì nhà đã
sắp đặt gọn gàng nhờ một ngày làm việc cật lực
của Thanh và chị Thịnh.
Căn
nhà gồm một phòng duy nhất, ngang ba thước, sâu năm
thước, phía sau có một chái nhỏ dùng làm bếp. Một
chiếc giường nhỏ đặt phía trước, gần cửa ra vào.
Kế bên là chiếc bàn trước đây Thu Hồng dùng để làm
việc. Cuối phòng, chiếc giường khá lớn đặt cạnh một
cái rương chứa tất cả quần áo của hai chị em.
Tôi
đặt Thu Hồng lên giường lớn và quay ra trả tiền xe.
Bác tài nhận tiền, nói cám ơn với nét mặt đầy thương
cảm.
Thế
là bắt đầu cuộc sông ẩn dật của tôi. Tôi cảm nhận
những ngày vẫy vùng trên trận mạc của tôi đang bắt
đầu chìm sâu vào quá khứ. Thôi thế cũng xong, số phận
đã an bài cho vợ chồng tôi rồi; chỉ tội cho Thanh, em
phải bỏ học nửa chừng, ngày sau cuộc đời em sẽ ra
sao?
Tôi
ra ngoài, đi một vòng quanh nhà, bước lên những thanh
tre, những khúc gỗ, những cọng lá còn vương vải khắp
nơi. Khu đất khá rộng, bị bỏ hoang từ nhiều năm rồi,
chung quanh trống trơn, chẳng biết ranh giới tới đâu.
Tít trong xa, thấp thoáng vài căn nhà lá ẩn dưới những
cây cao. Tôi muốn đưa Thu Hồng ra nhìn cảnh vật êm đềm
nhưng sợ nàng mới đi xa mệt nên thôi.
Tôi
trở vào nhà. Thu Hồng nằm ngửa, mắt mở to, trông có
vẻ thoải mái. Thấy tôi bước vào, nàng quay mặt nhìn
tôi, mỉm cười. Tôi ngồi xuống giường, cúi xuống, ôm
lấy hai vai và hôn lên đôi mắt. Tôi khẽ hỏi:
-
Thu Hồng, em có thích nơi nầy không?
Nàng
cười tươi gật đầu. Môi nàng mấp máy, nhiều âm thanh
nho nhỏ phát ra. Tôi cúi sát xuống mặt hỏi nàng:
-
Có phải em muốn nói nơi nào có anh thì em thích sống
phải không?
Nàng
gật đầu, đôi mắt sáng lên niềm vui sướng. Đó là
điều tôi mới khám phá ra hai hôm nay. Nàng nằm bất động
một chỗ, ký ức dần trở lại, nàng muốn chuyện trò
với người khác nhưng không nói được. Mất khả năng
diễn tả là điều cực kỳ đau đớn. Vì vậy, tôi
thường quan sát nét mặt nàng và đoán cái điều mà nàng
muốn nói. Tôi nói ra điều đó giúp nàng làm cho nàng tỏ
ra vui sướng. Tôi dịu dàng bảo:
-
Chiều nay, anh sẽ đưa em ra ngoài để ngắm cảnh vật êm
đềm chung quanh chỗ ở chúng ta. Em có thích không?
Nàng
gật đầu. Tôi nói tiếp:
-
Anh sẽ trồng rau, trồng cây ăn trái trong khu đất nầy,
biến nó thành một khu vườn xinh đẹp. Sau nầy em sẽ đi
dạo trong khu vườn mát mẻ đó, dưới bóng những cây
đang đơm hoa và những cây trĩu quả trên cành. Em có
thích không?
Nàng
lại gật đầu.
-
Ngay ngày mai, anh bắt đầu làm một vườn hoa bên trước
sân nhà. Anh sẽ trồng lên đó những cây hoa đủ màu và
tỏa hương thơm. Vườn hoa đó là của riêng em. Em có
thích không?
Nàng
cũng vẫn gật đầu, miệng cười thực tươi, hạnh phúc
tràn ngập trên khuôn mặt rạng rỡ và xinh đẹp.
Từ
lúc về nhà đến giờ, Thanh loay hoay trong bếp, lửa cháy
tí tách, khói thoát ra ngoài qua hai đầu xông, làm cho gian
nhà thực ấm cúng. Bữa ăn trưa đạm bạc với thịt hộp
mua sẵn từ hôm trước. Thế mà Thu Hồng ăn ngon miệng.
Trước khi ăn, nàng tỏ vẻ muốn được ngồi dựa vách
như lúc còn ở bệnh viện. Tuy nhiên, ở đây, cái vách
lá ọp ẹp chứ không vững như bức tường, nên nàng
phải nằm nghiêng trên mấy cái gối kê cao, để tôi đút
cho nàng từng muỗng cơm.
Ăn
xong, tôi đỡ nàng nằm xuống. Như thói quen lúc còn trong
bệnh viện, tôi ngồi kế bên vuốt tóc cho đến lúc nàng
ngủ say.
Tôi
đi lui đi tới, suốt từ cửa trước đến cửa sau, suy
nghĩ mông lung. Sáng mai, Thanh sẽ về Sài gòn, lãnh lương
của Thu Hồng. Đúng ra là tiền cứu giúp của tháng đầu
tiên mà nhà trường hứa cung cấp thường xuyên cho Thu
Hồng. Em sẽ mua một xe đạp để hàng ngày đi chợ. Tôi
viết thư cho Thịnh nhờ bán gấp căn phố của Thu Hồng,
hi vọng đó là số tiền lớn vì khi mua tôi đã dùng tất
cả tài sản cha mẹ để lại. Số tiền nầy có thể tạm
đủ cho ba chúng tôi sống ít nhất hai năm. Tuy nhiên tôi
cũng sẽ trích ngay một phần mua cho Thu Hồng một chiếc
xe lăn dành cho người tàn tật. Nàng sẽ ngồi trên đó
để tôi đẩy đi dạo chơi khắp nhà. Bên ngoài, tôi sẽ
cố gắng nhanh chóng dọn dẹp sạch sẽ, trước hết là
chung quanh chỗ ở, bang mặt đất cho phẳng, để xe nàng
có thể lăn lên một cách êm ái. Từ trước đến nay,
tôi chưa hề cầm đến cây cuốc, nhưng tôi nghĩ rằng
mình sẽ thực hiện được ý muốn không mấy khó khăn
vì những năm mặc áo lính đã cho tôi sức chịu đựng
nhọc nhằn và tình yêu to lớn đối với Thu Hồng giúp
tôi thắng sự mệt mỏi để bớt được phần nào sự
khổ đau của nàng vì bệnh tật. Tôi sẽ dọn dẹp miếng
đất hoang ngày một rộng hơn, để dần dần nàng được
đẩy đi xa hơn trong khu vực bình yên nầy.
Tôi
say sưa với ý nghĩ về những ngày sắp tới cho đến lúc
cảm thấy đôi mắt nặng trĩu, tôi bước đến giường,
rón rén leo lên nằm bên nàng, ngủ một giấc ngon lành vì
cả tuần lễ rồi trong bệnh viện, tôi chỉ được những
giấc ngủ chập chờn.
Tôi
thức giấc khi mặt trời xế bóng. Thu Hồng đã dậy
không biết tự lúc nào. Tôi vừa mở mắt là gặp ngay
cái nhìn đắm đuối của nàng. Tôi ngồi dậy hôn vào
trán nàng rồi bước xuống giường. Thanh đang dọn dẹp
quanh nhà, lửa trong bếp đang nổ tí tách vui tai. Nắng
chiều rọi vào cửa trước, mang theo hơi nóng và sự chói
chang. Tôi ra khép cửa và trở lại giường dùng quạt phe
phẩy cho Thu Hồng. Nàng sung sướng mỉm cười. Bỗng,
nàng nhắm mắt lại rồi mở to ra, nước mắt lưng tròng,
môi mấp máy, một âm thanh nho nhỏ phát ra.
Tôi
biết nàng muốn nói ra điều gì đó. Những lúc thế nầy,
nếu nàng được người khác dùng lời của mình phát
biểu cho trúng ý thì nét mặt nàng trở nên rạng rỡ,
đáng yêu vô vùng. Tôi muốn đem đến cho nàng phút giây
hạnh phúc, nên cúi xuống đoán ý nàng:
-
Trời nắng nóng, em khát nước phải không?
Nàng
nhìn tôi lắc đầu. Tôi nhìn sâu vào mắt, cố gắng hình
dung một biểu hiện nào đó cho phép bắt được dòng ý
nghĩ trong bộ óc đáng thương của nàng. Có tiếng xe cộ
văng vẳng từ xa lộ vọng vào. Tiếng xe làm tôi liên
tưởng đến ý nghĩ của nàng:
-
Nghe tiếng xe cộ ngoài kia, em lại nhớ thành phố, nhớ
trường, nhớ lớp có phải không?
Nàng
lại lắc đầu, cặp mắt vẫn ứa lệ, nghiêng đầu nhìn
chiếc quạt tôi đang cầm trong tay rồi ngửa đầu trở
lại, nhìn lên mái nhà, mắt xa xăm buồn bã.
Không
gian như chùng xuống. Có tiếng người la í ới, tiếng
chó sủa ở xóm trong. Gió chiều thổi vào mái tranh, những
cọng lá lòa xòa khua vào nhau, nghe lách cách một cách êm
êm. Trong đầu tôi, một thoáng quá khứ hiện ra, nhẹ như
tơ, buồn thoang thoảng. Trong thoáng quá khứ đó, bỗng
hiện ra bóng dáng của mẹ tôi, đôi mắt hiền từ, đang
cầm quạt phe phẩy cho đứa con trai nằm trên giường
bệnh ở một làng quê trong tỉnh Trà vinh của tôi.
Hình
ảnh đó đã quá xa xưa; nó lẩn khuất trong một thời
gian dài trong bề sâu của ký ức, tại sao hôm nay trở
lại? Hình ảnh đó lại quá tầm thường, có gây ấn
tượng nào mạnh mẽ trong quãng đời về sau của tôi
đâu.
Kỷ
niệm về người mẹ yêu quý vẫn đầy ắp trong ký ức
tôi, ở đó có biết bao nhiêu đoản khúc, đôi khi vẫn
quay lại làm cho tim tôi se thắt. Những đoản khúc nầy
thường rất đậm đà, rất bi thương, hình ảnh mẹ gần
như luôn hiện ra trong khung cảnh của những đoản khúc
bi thương nầy. Thế thì tại sao hôm nay, mẹ lại trở về
với tôi trong dáng vẻ thanh nhã nhẹ nhàng, tay phe phẩy
quạt cho đứa con trai duy nhất của bà?
Tôi
quay lại nhìn Thu Hồng, đôi mắt nàng vẫn xa xăm buồn
bã. Tôi muốn nói một điều gì đó để cho nàng vui. Tôi
cúi xuống, vuốt má nàng, lấy giọng thực âu yếm:
-
Bỗng nhiên, anh nhớ lại ngày xưa, mẹ anh cũng ngồi quạt
cho anh như thế nầy. Lúc đó, anh chỉ mới lên mười
nhưng hình ảnh đó trở về thực rõ như mới hôm qua.
Ngày xưa có khi nào mẹ em cũng phe phẩy quạt cho em như
thế không?
Nàng
giật mình, nghiêng qua nhìn tôi, miệng há ra một cách
ngạc nhiên, đôi mắt mở to đầy cảm xúc, nét mặt hân
hoan không kể xiết. Tôi ôm lấy khuôn mặt nầy, để má
tôi tựa vào má nàng.
Bấy
giờ tôi mới hiểu được thế nào là sự giao cảm lặng
thầm giữa hai tâm hồn rất mực yêu nhau. Tôi cũng vui
mừng thấy mới có mấy ngày, ký ức của nàng đã phục
hồi đến giai đoạn xa xăm của tuổi thơ. Trong bộ óc
bị tê liệt vì một cơn đột quỵ, đang có sự khai
thông dần dần, như một con đường đang dọn dẹp lại
cho thông suốt sau một cơn bão tố làm tắt nghẽn trong
cảnh đổ nát hoang tàn.
Tôi
sung sướng, lòng tràn ngập hi vọng nàng đang tiến đều
đặn trên con đường bình phục. Sau sự hồi phục của
trí tuệ, sẽ dần dần đến sự hồi phục của các chức
năng vận động, kể cả lời nói và chữ viết nữa. Một
ngày nào đó, nàng sẽ trở lại dạy học. Mùa hè, tôi
sẽ dẫn nàng đi đây đi đó. Chúng tôi sẽ ngắm hoàng
hôn về trên đỉnh Lang
Biang mờ mờ sau
làn sương mỏng. Chúng tôi sẽ ngắm bình minh trên bãi
biển Vũng tàu, mặt trời đỏ ối, to như cái nia ló lên
khỏi mặt nước phẳng phiu như trang giấy học trò. Tôi
tưởng tượng lúc ấy hòa bình đã đến, miền Nam không
còn binh đao và tôi cũng không còn lo sợ bị truy nã nữa.
Tôi nói cho nàng nghe những ý nghĩ vừa chợt đến trong
đầu tôi, làm cho hạnh phúc bao trùm lấy tấm thân tàn
tật của nàng.
Bữa
cơm chiều được Thanh dọn ra. Tôi cho nàng ăn trước rồi
mới ngồi vào bàn với Thanh. Khi tôi đặt nàng nằm
xuống, nàng tỏ vẻ không bằng lòng, nhìn tôi một cách
tha thiết rồi nhìn về chiếc bàn trên đã bày sẵn bữa
ăn. Tôi hỏi nàng:
-
Em muốn ngồi đây nhìn anh dùng bữa phải không?
Nàng
vui vẻ gật đầu. Trong bữa ăn, nàng nhìn tôi và Thanh
với vẻ thèm thuồng. Tôi cảm động, buông đũa, đứng
dậy đến cầm tay nàng thủ thỉ:
-
Em muốn cùng dùng bữa với anh và Thanh phải không?
Nàng
gật đầu. Tôi nói tiếp:
-
Anh sẽ kiếm một cái ghế dựa. Mỗi bữa ăn, em sẽ ngồi
bên anh, anh vừa ăn, vừa đút cho em ăn. Có phải em thích
như thế không?
Nàng
mừng rỡ gật đầu. Tôi cũng mừng rỡ không kém. Tôi đã
thực sự xâm nhập được vào thế giới câm nín của
nàng.
Đêm
đã đến. Thanh đốt ngọn đèn dầu, ánh sáng vàng vọt
làm cho gian nhà ấm cúng hơn. Bên ngoài, trăng vừa lên bị
mây che khuất, cố gắng rọi xuống trần gian ánh sáng
nhạt nhòa. Tôi nhìn qua khung cửa trước, mọi vật bên
ngoài thực huyền ảo, xa lộ Biên hòa hiện ra lờ mờ,
vắng tanh. Tôi bước ra khỏi nhà, lần về phía sau, đứng
im dõi mắt nhìn xóm làng xa xa. Dưới ánh sáng huyền ảo,
hàng cây kéo thành một vệt đen dài và lởm chởm, bên
dưới bầu trời xám, rải rác có những cụm mây trắng
đục.
Khoảng
không gian yên tĩnh rạn nứt vì một tiếng nổ xa xa.
Tiếng súng thực cô đơn đột nhiên gợi cho tôi biết
bao kỷ niệm làm cho tim tôi thắt lại. Đồng đội của
tôi giờ nầy ra sao? Còn ai nữa đã gục trên chiến
trường? Họ vẫn còn nhớ đến tôi hay không? Họ còn
yêu thương tôi hay căm ghét và khinh bỉ kẻ đã chối bỏ
phận làm trai thời loạn? Tôi trở vào vì không muốn
đứng đó lâu để bị nỗi buồn phiền gặm nhấm.
Tôi
nhẹ nhàng bước lên giường và nằm kế bên tấm thân
tàn tật của Thu Hồng. Sự tĩnh mịch của đêm ngoại ô
nhanh chóng đưa chúng tôi vào giấc ngủ an lành.
Sáng
hôm sau, tôi thức dậy khi bình minh vừa ló dạng. Phía xa
lộ, có tiếng máy nổ dòn của xe lam ba bánh; xóm làng
bên trong vẫn im lìm như vẫn còn chìm đắm trong giấc
ngủ say. Từ dưới bếp, ánh lửa bập bùng rọi lên.
Thanh đã thức dậy từ lâu và đang nấu nồi cháo cho bữa
ăn sáng.
Sau
bữa ăn, Thanh ra xa lộ đón xe về Sài gòn. Tôi đã dặn
em nhiều việc trong chuyến đi nầy. Trước hết là đến
trường gặp Thịnh để trao lá thư của tôi. Sau đó, em
lãnh lương của Thu Hồng và nhờ một thầy cô nào trong
trường dẫn em đi mua xe đạp, xong trở về nhà cũ lấy
nốt những vật dụng còn để lại.
Tôi
dặn em đi nhanh để về sớm nhưng tôi đoán trước em
không về sớm được. Em sẽ ghé lại lớp để từ biệt
bạn bè. Tôi hình dung những đứa trẻ sẽ ôm nhau khóc
nức nở làm cho thầy cô giáo cũng mủi lòng. Thanh là học
sinh giỏi của lớp, tất cả thầy cô và bạn bè đều
mến yêu. Nếu còn tiếp tục thì đây là năm học cuối
cùng của em tại trường nầy. Em đã hi vọng thi đậu
vào lớp Mười trường Gia long, ngôi trường lý tưởng
của tất cả nữ sinh ở thủ đô. Nhưng bây giờ, chấm
dứt tất cả ước mơ non trẻ của em. Thực là đau lòng.
Thanh
đi rồi, tôi ngồi bên giường, kể chuyện cho Thu Hồng
nghe một lát rồi sực nhớ những quyển truyện nhi đồng
mà tôi đã đọc chưa hết lúc nàng còn nằm trên giường
bệnh. Tôi đứng dậy đến nơi cái rương to để soạn
đồ đạc mà chị Thịnh và Thanh đã dồn cả vào trong.
Những quyển sách nầy chắc chắn không có エrong
rương mà ở đâu đó trong các giỏ xách từ bệnh viện
mang về. Tuy nhiên, tôi đổi ý, muốn lục rương vì tò
mò muốn xem những vật dụng của hai chị em trong những
ngày còn ở nhà cũ.
Thu
Hồng nghiêng đầu, dõi mắt nhìn theo tay tôi một cách
thích thú. Thấy vậy, tôi đứng dậy, sắp lại những
chiếc gối trên giường và đỡ nàng ngồi để xem tôi
làm việc. Nắp rương được mở ra, bên trên toàn là áo
quần của hai chị em. Tôi mang từng xấp một để trên
bàn để tiếp tục xem những vật dụng bên dưới. Bỗng
tôi nghe tiếng Thu Hồng ú ớ. Tôi giật mình quay lại.
Mắt nàng mở to, nhìn sững về phía bàn. Tôi theo ánh mắt
và chợt hiểu.
Màu
tím hoa cà! Chiếc áo dài màu tím hoa cà mà nàng đã mặc
lúc bước lên phi cơ để vào Nam. Tại phi trường Đà
nẵng, tôi đã say đắm nhìn tà áo dài bay phất phới ở
đầu cầu thang và tình yêu bắt đầu đốt cháy tâm can
tôi từ dạo ấy.
Tôi
cầm chiếc áo đến đặt vào lòng nàng. Thu Hồng cúi
xuống nhìn áo rồi ngẩng lên nhìn tôi, nước mắt rưng
rưng. Tôi ngồi xuống, đặt đầu nàng tựa vào ngực tôi
và cúi xuống hôn nhẹ vào má nàng. Khi tôi ngẩng lên thì
trông thấy nét mặt nàng thực rạng rỡ nhưng hai giọt
nước mắt tiếp tục lăn dài trên đôi má.
Tôi
lấy khăn lau mặt cho nàng rồi tiếp tục công việc lục
soạn đồ đạc trong rương. Tôi lôi ra chiếc
radio-cassette và
một hộp giấy nhỏ chứa đầy những cuộn băng ghi những
bản nhạc mà nàng ưa thích. Tôi mừng rỡ vì nghĩ rằng
tiếng nhạc trong gian nhà u tịch và hẽo lánh nầy sẽ
rất tốt cho tâm trí nàng hiện nay. Tuy nhiên, máy chưa
dùng ngay được vì nơi đây không có điện; tôi sẽ mua
pin
lắp vào sau.
Tôi
xếp mọi thứ vào rương. Chiều nay, tôi sẽ giao nhà cho
Thanh và đi chợ Thủ đúc. Tôi sẽ mua pin
và những dụng cụ làm vườn. Ngày mai tôi sẽ khởi
công. Chuyện trước hết là lập vườn hoa ở sân trước,
sau đó mới tính đến khu vườn cây ăn trái phía sau nhà.
Tôi
đến ngồi bên Thu Hồng, nhắc lại ý định lập vườn
hoa với nàng. Tôi hỏi nàng thích hoa gì?
Hoa
cúc? Nàng gật đầu.
Hoa
vạn thọ? Nàng gật đầu.
Hoa
mào gà? Nàng gật đầu.
Tôi
cố nhớ những loài hoa khác. Khổ nỗi, tôi không phải
là người thích chơi hoa nên chỉ được vài loài nữa là
hết. Tôi vừa nói ,vừa cười to:
-
Khu vườn nầy sẽ là vương quốc của những loài hoa, em
sẽ la nữ hoàng của vương quốc đó. Đúng không?
Nàng
gật đầu, nụ cười rạng rỡ. Tôi sung sướng thấy
nàng tiến thêm một bước trên con đường hồi phục vì
nàng vừa lấy lại ý thức khôi hài của người bình
thường. Tôi sẽ để tâm tìm những câu nói đùa thực
vui để làm cho căn nhà nhỏ nầy trở thành một tổ ấm
đầy tiếng cười, với hi vọng đẩy nhanh tiến độ hồi
phục của nàng. Song song với sự hồi phục tâm trí, tôi
cũng tìm mua hay nghĩ cách tự chế vài dụng cụ giúp nàng
lấy lại cử động tay chân.
Tôi
vuốt đôi má nàng và bảo nàng nằm nghỉ để tôi đi
nấu cơm, vì chắc chắn Thanh không thể về nhà trước
bữa trưa được.
Quả
thực, đến xế chiều, Thanh mới về tới. Tôi nhìn thấy
em đạp xe từ xa lộ, băng qua con đường mòn gập ghềnh
mới đến nhà. Mặt em đỏ bừng vì nắng nóng, mồ hôi
nhễ nhại nhưng nét mặt thơ ngây thực rạng rỡ. Sau xe
là một giỏ to đầy đồ đạc.
Vừa
dựng xe, em đã la to:
-
Anh Hưng, em đạp xe từ Sài gòn về.
Tôi
ngạc nhiên:
-
Em biết đi xe đạp từ khi nào?
-
Lâu rồi, từ mấy năm trước, em mượn xe của Loan, con
gái ông tổng giám thị, tập trong sân trường.
Tôi
đỡ lấy xe đạp. Em bước xuống chạy nhanh vào nhà. Tôi
nghe giọng em tíu tít nói chuyện với Thu Hồng.
Tôi
nhìn chiếc xe, ngạc nhiên thấy xe đã cũ. Tại sao không
phải là xe mới? Có lẽ Thanh tìm mua xe cũ cho đỡ tốn
tiền. Đứa bé nầy thực là đáng thương.
Thanh
trở ra, thấy tôi đang quan sát chiếc xe, em nói:
-
Cô Hường, giáo sư hướng dẫn lớp cho em đó. Khi sáng,
lãnh lương xong, em nhờ cô dẫn đi mua xe thì cô bảo đem
xe nầy về mà dùng. Xe nầy cô đang sử dụng để đi dạy
nhưng cô còn một chiếc nữa ở nhà.
Tôi
tò mò nhìn em:
-
Em gặp cô Hường tại lớp à?
-
Dạ, lãnh lương xong, em chạy đại vào lớp. Đang giờ
quốc văn của cô.
-
Em có gặp bạn em để từ giã không?
-
Có, tụi nó ôm em khóc quá chừng. Em cũng khóc. Cô Hường
cũng khóc luôn. Giờ chơi, mấy cô kéo em vào văn phòng
hỏi thăm chị Hồng và hỏi địa chỉ để đến thăm.
Tôi
lo lắng:
-
Em có cho các cô biết địa chỉ không?
-
Không, em không nói, anh có dặn em rồi mà.
-
Có ai biết anh đã về không?
-
Không ai biết cả. Em nói chị Hồng đang sống nhờ nhà
bà con và bác sĩ cấm không được gặp người quen, sợ
chị Hồng xúc động. Anh dặn thế nào thì em nói thế
đó. À anh Hưng, có cái thư của thầy Thịnh gởi anh.
Thanh
móc túi lấy ra một xấp tiền cùng một bao thư xếp làm
đôi:
-
Thư và tiền lương của chị Hồng đây.
Tôi
nhận lấy, cất tiền vào bọc và vội vàng bóc thư ra
đọc:
Anh Hưng,
Tôi
đã nhận được thư anh. Tôi viết vắn tắt để em Thanh
kịp đem về cho anh. Chuyện bán nhà mà anh nhờ, tôi sẽ
xúc tiến ngay và giải quyết trong thời hạn ngắn nhất.
Tuy nhiên phải bán cho được giá để anh có tiền mà
sống. Về thủ tục bán nhà thì anh khỏi lo. Nhờ làm
hiệu trưởng nên tôi có quen biết những chỗ cần thiết,
có lẽ không cần sự có mặt của cô Thu Hồng. Về việc
cái xe lăn dùng cho người tàn tật mà anh nhờ tôi hỏi
giá cả và nơi bán, tôi sẽ làm ngay. Nhưng anh không phải
mua, chúng tôi sẽ tặng cô Hồng cái xe lăn đó. Tôi có
bàn bạc sơ với vài thầy cô đang dạy và sẽ thông báo
trong buổi họp hội đồng nhà trường sắp tới. Chắc
chắn mọi người sẽ đóng góp. Các thầy cô đều nhắc
đến cô Hồng với sự thương cảm sâu xa. Ai cũng còn
nhớ cô Hồng và em Thanh là nạn nhân của chiến cuộc
Tết Mậu thân nên họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Độ mười
ngày nữa, anh cho em Thanh đến trường mang xe về.
Thì
giờ gấp rút không thể viết dài được. Vợ chồng
chúng tôi, tất cả thầy cô và học sinh tha thiết cầu
mong Thu Hồng sớm bình phục để trở lại với trường.
Ký
tên: Nguyễn đức Thịnh.
Tái
bút: Nếu anh
có thể thu xếp được để cho em Thanh đi học trở lại
thì vợ chồng tôi và nhà trường sẽ lo liệu chỗ ăn ở
và mọi chi phí cho đến khi em được lên đại học.
Đọc
xong thư, tôi ngồi ngẩn ngơ một lúc khá lâu, thực xúc
động vì tấm lòng của những con người miền Nam. Phải
chi, miền Bắc đừng quá tham vọng để cho những người
đó yên ổn sống với nhau thì cuộc đời sẽ đẹp đẽ
biết bao.
Tôi
định đọc lá thư nầy cho Thu Hồng nghe nhưng nghĩ lại,
thôi không đọc nữa. Bức thư thực đẹp nhưng đã gây
xúc động cho tôi thì đối với nàng sự xúc động phải
mạnh hơn nhiều.
Thanh
đã mang giỏ thức ăn treo trước tay lái xe đạp vào bếp.
Em soạn ra nhiều món. Tôi bước đến gần, nhìn một
cách tò mò. Rau, cá, thịt, ốc, và lạ lùng chưa, có cả
một chai bia. Em ngẩng lên, nhìn tôi mỉm cười:
-
Em ghé chợ chiều ở ngã tư xa lộ mua mấy thứ nầy.
Suốt ngày hôm qua, lo dọn nhà không mua được thức ăn
cho chị Hồng. Hôm nay, chị được ăn bù.
Thanh
chỉ mớ ốc và chai bia:
-
Phần của anh đây để mừng nhà mới.
Tôi
cười:
-
Nhà mới của cả ba người mà chỉ một mình anh mừng
thôi sao?
Thanh
bỗng đứng dậy đến gần tôi:
-
Anh Hưng, em muốn nói với anh điều nầy.
Thấy
tôi nhìn sững, em vội tiếp lời:
-
Khi nãy em đi chợ chiều, rảo từ đầu đến cuối, thấy
người ta mua bán cũng vui. Em nãy ra định ra tập mua bán
ngoài đó. Em có làm quen với một bà bán cá, bà ấy bảo
sẽ giúp đỡ em. Chị Hồng nằm yên tại chỗ, anh phải
thường xuyên ở một bên để săn sóc, em phải lo cái
sống.
Nói
xong, em đứng yên cúi đầu chờ đợi câu trả lời của
em. Tôi sửng sốt vì ý nghĩ nầy của một đứa trẻ
thơ. Tôi hiểu sự lo lắng của em. Ngay từ khi mới chín
tuổi, lúc còn ở Đà nẵng, em đã lén chị đi ăn xin
ngoài phố khi hai chị em lâm vào bước đường cùng. Tôi
cảm động nói với em:
-
Thanh, em nghe anh nói đây. Gia đình mình có đủ tiền để
sống, em không phải lo. Một hai hôm nữa, em sẽ đi học
lại, nghe chưa? Anh Thịnh sẽ thu xếp chỗ ở cho em.
Tôi
định nói những điều Thịnh viết trong thư thì Thanh đã
ngẩng lên nghẹn ngào:
-
Anh Hưng, anh có thương em không?
Tôi
sửng sốt, chưa hiểu em muốn nói gì trong câu hỏi đó.
Tôi cảm thấy đứa trẻ đáng thương nầy có những ý
nghĩ không còn là trẻ thơ nữa. Tôi đáp lời:
-
Sao em lại hỏi anh như thế? Anh mồ côi cha mẹ, chẳng có
anh chị em ruột thịt. Anh đã gặp em và chị Hồng. Chị
Hồng trở thành vợ anh và em trở thành đứa em ruột
thịt của anh. Em không thấy thế sao?
Thanh
nghẹn ngào tiếp lời:
-
Em cũng mồ côi cha mẹ như anh. Bác Tư đem về nuôi và
thương như con đẻ. Bác Tư, anh Trí, anh Tuệ mất đi, em
suýt làm đứa ăn xin thì trời lại đem anh tới với em
và chị Hồng. Nếu anh còn thương em thì đừng bao giờ
bắt em phải sống xa chị Hồng.
Em
út mặt vào hai tay khóc nức nở. Tôi lặng người vì xúc
động. Tôi bảo nhỏ:
-
Thanh, em đừng khóc nữa. Thôi, chuyện đó sẽ tính sau,
bây giờ em cứ ở nhà, hai anh em mình cố săn sóc cho chị
Hồng mau bình phục.
Thanh
vâng lời, lau khô nước mắt, ngước lên hỏi tôi:
-
Có phải anh ở luôn để săn sóc chị Hồng hay không?
Nhưng anh là sĩ quan mà. Mấy bữa ni,
anh dặn răng
thì em làm theo rứa
nhưng chẳng hiểu tại sao. Có phải anh trốn về phải
không?
Qua
mấy năm sống tại thủ đô, em đã nói rặt giọng Sài
gòn nhưng khi nào cần tỏ sự thân mật với Thu Hồng và
tôi thì em thường pha một số từ của xứ Huế vào,
nghe thực buồn cười và dễ thương. Lời nói của em làm
tôi suy nghĩ và thấy rằng em đã đủ trí khôn nên phải
nói toàn bộ sự thực cho em hiểu để em có thể ứng xử
khi cần thiết. Tôi nói:
-
Đúng là anh trốn về đây để săn sóc chị Hồng và
đang bị truy nã. Người ta đang truy nã anh không phải như
kẻ hèn nhát đào ngũ để tránh cái chết mà còn nghiêm
trọng hơn nữa. Anh bị nghi ngờ đã đầu hàng giặc và
làm tay sai cho chúng nó. Vì vậy, anh quyết định về đây
là nơi vắng vẻ, tuy nhiên không có chỗ nào được gọi
là an toàn đối với an ninh quân đội. Nếu anh bị bắt
thì chắc chắn không còn có dịp gần gũi và săn sóc chị
Hồng của em nữa. Binh sĩ đào ngũ thì bị đưa đi làm
khổ sai tại các trại lao công đào binh, còn sĩ quan như
anh thì bị đưa ra tòa án quân sự và lãnh án rất nặng.
Tôi
ngừng nói vì thấy vẻ căng thẳng quá mức trên nét mặt
thơ ngây của em. Tuy nhiên tôi phải tiếp tục trình bày.
Trong tình thế nầy, em không còn được phép sống với
tâm hồn trong sáng của trẻ thơ nữa mà cần phải hiểu
biết như một người lớn. Vì thế, tôi nói tiếp:
-
Nếu bị truy đuổi gắt gao, anh có thể lánh mặt một ít
lâu và trao hết bổn phận săn sóc chị Hồng cho em. Em có
hiểu hết lời anh nói không?
Thanh
chăm chỉ nghe và se sẽ gật đầu. Tôi tiếp tục dặn em
sự đối phó khi gặp những trạng thái xấu và bất ngờ.
Nét mặt em bớt căng thẳng nhưng trông hết sức buồn
bã. Cuộc chiến tranh “giải phóng” đã cướp mất tuổi
thơ của em rồi. May là em đã gặp những tấm lòng tốt
sẵn sàng đùm bọc em. Nhưng những tấm lòng tốt đó làm
sao chống lại nỗi ảnh hưởng bạo tàn của chiến
tranh. Tôi nghe giọng em nói nho nhỏ thực dễ thương:
-
Em thường hãnh diện với bạn học của em vì có một
người anh là sĩ quan đang chiến đấu ngoài mặt trận.
Bây giờ không còn như thế, nhưng em lại được sung
sướng vì anh không còn bỏ em và chị Hồng mà đi nữa.
Tôi
mỉm cười, lòng được an ủi vì lời nói thơ ngây nầy.
Tôi đứng dậy, lên ngồi nói chuyện với Thu Hồng. Tôi
không đả động gì đến chuyến về Sài gòn của Thanh
mà chỉ tìm những đề tài vớ vẩn, vui vui để kể cho
nàng nghe.
Những
ngày sau đó trôi qua một cách bình thản. Chiếc
radio-cassette đã
có pin
được mua về, bắt đầu lên tiếng. Tôi cho phát những
bản nhạc êm dịu, Thu Hồng lắng tai nghe. Tiếng nhạc
mang không khí vui tươi và đầm ấm đến cho gian nhà bé
nhỏ. Buổi tối, tôi bắt các sóng phát thanh để nghe tin
tức. Tôi lo lắng vì những bất lợi của phía quốc gia
trên nhiều chiến trường nhất là ở vùng Một Chiến
thuật, qua làn sóng của các đài ngoại quốc.
Các
dụng cụ làm vườn đã có đầy đủ, tôi bắt đầu dọn
sạch cỏ quanh nhà. Mới có ba hôm mà đã thấy khang trang
hẳn ra. Tôi dùng cuốc xới một vùng phía trước, cách
thềm nhà độ năm thước. Đó là vườn hoa của Thu Hồng.
Ngày mai tôi lại đi Thủ đức để tìm mua những hạt
giống về gieo lên đó.
Đi
ra khỏi nhà, dù chỉ trong chốc lát là điều rất miễn
cưỡng đối với tôi. Tôi biết là lệnh truy nã đặc
biệt đã được gởi đi khắp nơi và luôn có cảm giác
cái lưới khổng lồ đang rình rập quanh đây, có thể
chụp xuống đầu tôi bất cứ lúc nào. Tôi nhớ da diết
những đường phố Sài gòn, ở đó có biết bao kỷ niệm
của những năm còn cắp sách đến trường. Mùa mưa đã
đến từ lâu, tôi thương nhớ những con đường sũng
nước, những giọt mưa rơi xuống làm vỡ vụn ánh đèn
đường bên trên rọi xuống. Nhớ nhung thì mặc nhớ
nhung, tôi vẫn không dám trở về, dù chỉ trong chốc lát.
Tấm thân tôi chẳng còn bao nhiêu giá trị nữa, nhưng
hiện tại rất cần thiết cho Thu Hồng. Vì nàng, chỉ vì
nàng mà tôi cần bảo vệ cẩn mật tấm thân đó.
Một
hôm, năm ngày sau khi chúng tôi về đây, đang cuốc đất
tôi thấy một người đàn ông từ hướng xa lộ xăm xăm
bước đến. Chưa kịp nhận định đây là hạng người
nào, tôi vội vứt cuốc, bước nhanh vào nhà. Tôi biết
chắc ông nầy có ý định vào nhà tôi vì con đường
trước mặt không dẫn đi đâu khác nữa. Tôi hết sức
lo lắng. Ông ta là ai, vào đây để làm gì? Có phải ông
ta đi tìm tôi vì tôi đã bị lộ tông tích? Tôi có còn
được ở yên để săn sóc Thu Hồng nữa hay không?
Tốt
hơn hết là tôi không nên gặp ông ta ngay mà gọi Thanh,
bảo ra hỏi trước rồi sau đó tôi sẽ tùy sự việc xảy
ra mà đối phó. Thanh biết ý chạy ra ngay, tôi đến ngồi
bên Thu Hồng hồi hộp chờ đợi. Tôi lắng nghe tiếng
Thanh và người lạ nói với nhau nhưng khoảng cách khá xa
nên không hiểu gì cả. Vài phút sau, Thanh đi vòng bên
hông nhà vào bếp. Tôi vội bước xuống hỏi nhỏ:
-
Ai vậy?
-
Ông nông dân ở xóm trong.
-
Ông định vào nhà mình phải không?
-
Dạ phải.
Tôi
sốt ruột hỏi dồn:
-
Em nói thế nào với ông ấy?
-
Em hỏi ông muốn đi kiếm ai. Ông bảo thấy gia đình mới
đến nên muốn vào thăm.
-
Rồi em nói thế nào mà ông ta bỏ đi?
-
Em nhớ lời anh dặn cố ngăn không cho ai vào nhà nên em
bảo rằng chị em đang bệnh, bác sĩ không cho gặp người
lạ, có thể nguy hiểm. Ông ta ngạc nhiên hỏi tại sao.
Em không biết giải thích thế nào nên đưa tay chỉ vào
đầu mình. Ông ta gật gù bảo: “Bị điên hả? Hèn chi,
cái chú đang cuốc đất thấy tôi đến vội chạy vào để
giữ người điên. Người điên thì hung dữ và nguy hiểm
thật. Thôi qua về nghe cháu. Qua ở xóm trong, rảnh vào
chơi”. Nói xong, ông ta vội vã trở lên xa lộ để đi
vòng qua phía khác. Thỉnh thoảng ông ấy lại quay mặt
lui, lấm lét nhìn vào nhà mình.
Nghe
em nói tôi cười thầm, định khen em thông minh và khôn
ngoan, nhưng tôi ngạc nhiên thấy vẻ giận hờn trên khuôn
mặt thơ ngây của em. Thanh nhìn tôi với vẻ bất mãn và
nói tiếp:
-
Anh Hưng, nghe ông ấy bảo chị Hồng bị điên, em tính cự
lại. Em chỉ lên đầu là muốn nói chị bị tai biến ở
não, ai dè ông ta lại hiểu bậy bạ. Thiệt là tức, cái
ông vô duyên!
Tôi
an ủi:
-
Họ hiểu như vậy càng hay, chúng ta yên thân hơn.
-
Nhưng mà tội cho chị Hồng lắm.
Thấy
em sắp khóc, tôi bảo:
-
Em đừng giận nữa, đi nấu cơm đi.
Nói
xong, tôi ra vườn tiếp tục công việc.
Mấy
hôm sau, đúng hẹn, Thanh về Sài gòn để gặp Thịnh tại
nhà vì hôm nay là ngày chủ nhật. Em cũng thích như thế
vì sợ vào trường gặp lại bạn bè và thầy cô. Tội
nghiệp cho em! Buổi trưa, em trở về mang theo theo một xe
lăn, đúng với lời hứa của Thịnh. Chiếc xe mới toanh
và rất đẹp, thuộc loại đắt tiền, các gọng sắt xi
bóng loáng, ghế ngồi và ghế dựa thực êm ái. Tôi lại
bồi hồi cảm động vì lòng tốt của bạn bè.
Tôi
đặt xe giữa nhà, đến đỡ Thu Hồng ngồi dậy trên
giường. Nàng trố mắt nhìn sững, trên khuôn mặt xinh
đẹp, lồ lộ nỗi hân hoan không bút nào tả xiết. Tôi
vuốt tóc nàng, âu yếm:
-
Em thích xe nầy phải không?
Nàng
gật đầu liền mấy cái, rồi ngước mắt lên nhìn tôi
với cặp mắt hỏi han. Tôi đặt câu hỏi giùm nàng:
-
Có phải em muốn nói ở đâu ra chiếc xe nầy phải không?
Nàng
gật đầu. Tôi trả lời:
-
Anh mua để làm quà sinh nhật cho em đó. Ngày mai là sinh
nhật, em có nhớ không?
Nàng
gật đầu, rưng rưng nước mắt. Tôi đã nói dối vì
chưa dám nhắc đến đồng nghiệp và trường cũ của
nàng.
Tôi
bế nàng đặt lên xe. Nàng ngồi lọt thỏm bên trong một
cách thoải mái, chân buông thỏng phía trước, hai tay đặt
lên chỗ dựa êm ái. Tôi đứng phía trước, khom người
ngắm nhìn khuôn mặt rạng rỡ của nàng. Nàng cười, đôi
môi mấp máy. Nàng đang muốn nói với tôi. Tôi bước lại
gần, cúi xuống:
-
Em cảm ơn anh, phải không?
Nàng
gật đầu, tôi nói tiếp:
-
Em đền ơn anh đi.
Tôi
cúi sát xuống để nàng hôn vào mặt tôi. Tôi ngẩng lên
nhìn sắc mặt hồng hào của nàng, tôi vui sướng và tự
hài lòng về quyết định chọn chốn nầy làm nơi dưỡng
bệnh cho nàng. Mới có mười ngày về đây thôi, sắc
diện nàng đã khá hơn rõ rệt. Nhờ sự yên tĩnh và
không khí trong lành, nàng ăn ngon, ngủ ngon, đôi mắt sáng
hơn và nụ cười tươi hơn. Mỗi ngày hai lần, tôi pha
thuốc và đưa đến tận môi. Nàng ngoan ngoãn uống xong
rồi nhăn mặt như một đứa trẻ thơ. Trong ngày, tôi
ngồi bên nàng nhiều giờ. Theo lời dặn của bác sĩ, tôi
luôn xoa bóp tay chân để kích thích các dây thần kinh bên
trong. Hai tay có dấu hiệu phục hồi, mười ngón tay đã
cử động được theo ý muốn, cánh tay nhấc lên được
tí xíu trong một hai giây. Dấu hiệu phục hồi cũng thấy
được ở cổ. Khi ngồi, nàng có thể giữ đầu thẳng
đứng khá lâu trước khi dựa vào gối kê. Bên dưới thì
chưa thấy dấu hiệu gì. Trong bàn tay tôi, hai chân vẫn
còn mềm nhũn, co duỗi một cách thụ động theo tay tôi.
Cứ mỗi lần sờ đến đôi chân nầy, lòng tôi lại lặng
đi trong nỗi xót thương cùng cực.
Đôi
chân nầy đang buông thỏng một cách tội nghiệp trên xe
lăn. Tôi lấy một cái gối kê vào bên dưới để hai bàn
chân bất động của nàng tựa lên trên.
Tôi
quá phấn khởi, định đẩy xe nàng ra ngoài thì Thanh chận
lại:
-
Anh Hưng, trời nắng lắm. Để chị Hồng dạo trong nhà
được rồi. Anh xem thư của thầy Thịnh đây. Có cả
tiền nữa.
Tôi
dừng lại, nực cười cho mình. Tôi đã ngày đêm mơ ước
chiếc xe nầy để đưa Thu Hồng đi chơi. Ước mơ đã
thành sự thực nên tôi quên mọi chuyện khác. Tôi nhận
bao thư, bóc ra đọc ngay. Trước hết, vợ chồng Thịnh
và cả trường thăm hỏi Thu Hồng. Sau đó, Thịnh báo cho
biết đã có người chịu mua căn nhà của tôi. Vừa mới
treo bảng bán nhà là có nhiều người đến hỏi vì người
ta đổ xô về Sài gòn do chiến tranh đang trở nên ác
liệt, nhất là ở vùng Một Chiến thuật, cao nguyên và
các tỉnh miền Đông. Thịnh gởi cho tôi số tiền ứng
trước của người mua. Trong vòng nửa tháng, giấy tờ
xong, người ta sẽ giao nốt số tiền còn lại.
Tôi
đọc lá thư cho Thu Hồng và Thanh nghe. Cuộc sống vật
chất của chúng tôi, trước mắt không còn gì đáng lo
nữa. Số tiền kia, tôi sẽ nhờ Thịnh gởi vào quỹ tiết
kiệm để hàng tháng rút tiền lời ra tiêu dùng. Nếu có
thâm vào vốn thì cũng ít thôi. Tôi nhẩm tính, nếu vật
giá không leo thang đột ngột thì gia đình nhỏ gồm ba
người chúng tôi có thể sống được ba năm. Trong thời
gian nầy, nhất định tôi sẽ tìm ra một cách sống nào
đó. Tôi hi vọng sự truy nã tôi sẽ bớt gay gắt và tôi
sẽ kiếm được một công việc vào ban đêm như làm việc
cho các lò bánh mì, quét dọn chợ và đường phố trong
những giờ thiên hạ yên giấc. Tôi bằng lòng làm bất
cứ việc gì để có thể nuôi sống Thu Hồng và em Thanh
của chúng tôi.
Tôi
cất thư và tiền vào rương rồi đẩy xe chở Thu Hồng
đi khắp nhà. Tôi dừng lại ở cửa trước để nàng
nhìn ra hướng xa lộ, tôi lại đẩy nàng xuống bếp để
quan sát Thanh đang lo bữa ăn trưa. Nàng tỏ ra rất thích
thú, y như một đứa trẻ được đi du lịch nơi xa lạ.
Trưa
hôm đó, nàng ngồi xe và cùng dùng bữa với chúng tôi
tại bàn. Trước mặt tôi là hai chén cơm với một đôi
đũa cho tôi và một cái muỗng dùng để đút cơm cho
nàng. Ăn xong, tôi bế nàng lên giường và xoa bóp cho tới
lúc nàng ngủ say.
Buổi
chiều, trời đổ cơn mưa, tôi không đưa nàng ra bên
ngoài chơi được nên hẹn sáng hôm sau.
Kể
từ ngày hôm đó, với chiếc xe lăn, nàng dạo chơi khắp
nhà và chỉ lên giường lúc đi ngủ. Mặt tiền nhà quay
về hướng tây nên buổi sáng nàng ngồi chơi phía trước,
buổi chiều thì sau nhà. Tôi để xe trong bóng im rồi cuốc
đất, làm cỏ hay trồng cây trước mặt nàng. Kế cận
bên xe là một chai nước với một cái ly. Chốc chốc,
tôi nghỉ tay đến ngồi bên nàng rót nước uống. Một
lần nàng ra hiệu muốn uống chung ly nước với tôi. Tôi
chiều ý nên mỗi lần giải khát, tôi đều đưa ly nước
đang uống đến môi nàng. Nàng vừa uống vừa nhìn tôi
một cách âu yếm.
Tôi
tìm cách cột chiếc radio-casette
nơi thành xe, kế bên tay vịn. Nàng tỏ vẻ thích thú khi
nhạc trổi lên. Tôi ghi nhận, trong khối óc của nàng,
thêm một biến chuyển mới, sự phục hồi khả năng
thưởng thức âm nhạc. Mỗi biểu hiện tiến triển nào
nơi nàng cũng là một niềm hạnh phúc của tôi, niềm
hạnh phúc thực ý nghĩa trong cái nghịch cảnh nầy.
Không
bao lâu, trong vườn hoa trước sân đã có những chồi non
mọc lên. Tôi cẩn thận nhổ cỏ dại để bảo vệ những
chồi non quý giá đó. Tôi tưởng tượng vài tuần lễ
nữa, những bông hoa sẽ khoe sắc thắm trước mặt nhà
để góp phần sắp xếp lại những đường dây thần
kinh trong khối óc đáng thương của nàng.
Mùa
mưa vừa chấm dứt, mùa nắng bắt đầu, tôi không xúc
tiến công việc trồng cây ăn trái ở sau vườn, dồn hết
sức lực để tưới và săn sóc vườn hoa của Thu Hồng.
Rồi gió bấc thổi về báo hiệu cái Tết cổ truyền
đang đến.
Từ
sau Tết Mậu thân đẫm máu, tôi chưa bao giờ được
thưởng thức Tết tại Sài gòn, vì cứ đến trước Tết
là tất cả đơn vị đều nhận được lệnh cấm trại
và túc trực ứng chiến, đề phòng quân địch tái diễn
trò “tổng tấn công nổi dậy”. Năm nay, không còn ở
trong quân đội nữa, tôi mong hưởng được một cái Tết
tưng bừng và rực rỡ như khi còn đi học.
Tuy
nhiên, điều mong ước đơn sơ đó càng lúc càng mỏng
manh. Bước vào đầu năm, tình hình trở nên nặng nề,
Sài gòn không còn cảm tưởng đứng bên ngoài cuộc chiến
tranh ở xa xôi nữa. Tin tức chiến sự dồn dập bay về
trên những trang nhật báo và qua các làn sóng truyền
thanh. Cộng quân tấn công khắp nơi và thu được nhiều
thắng lợi. Một tháng trước Tết âm lịch, tỉnh lỵ
Phước long thất thủ. Mặc cho những lời giải thích và
trấn an của chính phủ, không khí hoang man tràn ngập khắp
Sài gòn. Rồi bản cáo trạng chống tham nhũng của một
số tu sĩ, chụp lên Hòn ngọc Viễn đông một màn đen u
ám. Vùng an ninh chung quanh thủ đô bị thu hẹp vì du kích
thừa cơ tăng cường hoạt động. Điều nầy gây nên nỗi
lo âu to lớn cho sự sống của gia đình nhỏ bé của tôi.
Vài
tháng đầu về đây, tôi chỉ chú tâm lo sự truy nã của
an ninh quân đội mà quên rằng du kích cộng sản cũng là
một nguy cơ không nhỏ. Hiện tại, tôi là lính đào ngũ,
nhưng trong quá khứ, tôi là một sĩ quan thủy quân lục
chiến, kẻ thù số một của họ. Mối thù đó, dễ gì
họ bỏ qua.
Hơn
nữa, với bản chất đa nghi, họ đâu có sẵn sàng tin
tôi đã từ giã hàng ngũ đối đầu với họ. Trong cuộc
nội chiến nầy, công tác tình báo được hai bên tích
sực vận dụng; ngay như thường dân cũng có không ít
người làm gián điệp cho bên nầy hoặc bên kia. Chương
trình Phượng hoàng do CIA tài trợ đã mua nhiều tin tức
tình báo ở các cơ quan dân sự và thường dân. Hình như
chương trình diệt trừ sốt rét trước đây cũng có
những nhân viên làm tình báo cho chúng ta với những tin
tức thực quý giá mà họ thu lượm được khi mang bình
xịt DDT len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm của miền Nam. Sự
hiện diện của gia đình tôi với nếp sống hoàn toàn
khép kín chắc chắn gợi cho Việt cộng sự chú ý và
nghi ngờ. Đối với cộng sản, dân miền Nam chỉ có hai
loại, một là theo cách mạng, hai là theo địch, không có
cái thứ ở giữa. Họ dễ dàng nhổ cái gai nghi ngờ
trong mắt bằng bất cứ cách nào mà họ cho là tiện lợi
nhất.
Nỗi
lo lắng nầy trở thành sự thực trong một đêm kinh hoàng
vào những ngày cận Tết. Đêm đó, tôi đang ngủ bỗng
giật mình thức giấc và tỉnh táo ngay một cách khác
thường. Tôi có cảm tưởng rằng linh tính đang báo cho
tôi một điều hệ trọng. Quả thực, vài phút sau, tôi
nghe có tiếng xào xạc từ phía sau lớn dần và trở
thành những bước chân dẫm trên cỏ khô rồi trên mặt
đất. Họ đang đến gần. Qua tiếng bước chân, tôi nhận
ra có đến ba, bốn người hay nhiều hơn nữa. Họ dừng
lại bên hông nhà, sát bên giường nằm của vợ chồng
chúng tôi. Tôi mở mắt nhìn ra ngoài, qua khung cửa sổ mở
rộng. Trời không trăng nhưng sáng lờ mờ, nhờ những
ánh đèn của trung tâm thành phố phản chiếu trên bầu
trời đầy mây.
Tôi
nằm im không dám nhúc nhích, tiếng thở đều đều của
Thu Hồng nghe rõ mồn một. Bên ngoài, trong tiếng côn
trùng lẫn tiếng ếch xa xa, có tiếng người rù rì nói
chuyện. Những người nầy là ai, phe quốc gia hay phe cộng
sản? Chắc chắn không phải là lính quốc gia. Tôi biết
mấy ông nghĩa quân hay địa phương quân của phe ta, giờ
nầy đang ngủ với vợ hay đang núp kỹ trong lô cốt.
Cũng không phải là lính chính quy đi phục kích vì bước
chân mang giày ống của lính chính quy thì nặng nề chứ
không nhẹ nhàng như bước chân trần hay mang dép
lốp mà tôi vừa
nghe. Thế thì đúng là “họ” rồi.
Tôi
đã từng đụng địch nhiều lần trong những cuộc hành
quân trước kia nhưng chưa bao giờ nằm gần “họ” như
thế nầy. Một luồng hơi lạnh chạy dài suốt cột sống.
Tôi mím môi, nắm chặt hai bàn tay cho khỏi run, cố lắng
nghe tiếng rù rì bên ngoài. Hình như họ hỏi nhau có nên
xông vào hay không. Tôi nghe đúng như thế hay chỉ là ảo
giác nơi tai trong trạng thái cực kỳ căng thẳng?
Làm
sao đây? Có nên tông cửa chạy trốn hay không? Chắc chắn
họ sẽ bắn theo, tôi không sợ. Điều đáng sợ là họ
sẽ xông vào nhà sau khi tôi chạy thoát hay ngã quỵ vì
trúng đạn. Đáng sợ hơn nữa là trước khi xông vào họ
sẽ quăng vô nhà một trái lựu đạn cho đúng với bài
bản của chiến thuật quân sự, cuộc đời hai chị em ắt
chấm dứt từ phút đó.
Không,
tôi không thể hành động như thế được. Tôi không thể
chạy trốn một mình, bỏ mặc hai chị em được. Tôi cứ
nằm yên đây và họ sẽ xông vào lôi đầu dậy, tôi sẽ
bị bắt đi theo để vĩnh viễn từ biệt vợ tôi? Không,
tôi nhất định không bỏ Thu Hồng để cho họ dẫn đi.
Tôi phải tìm cách cho họ giết cả hai vợ chồng chúng
tôi một lượt ngay trong đêm nay và linh hồn chúng tôi sẽ
tìm đến một nơi bình yên hơn, bên kia thế giới. Nhưng
lúc đó em Thanh sẽ thế nào? Em chỉ mới mười sáu tuổi
đầu mà thôi!
Tôi
thở ra một hơi dài nhắm mắt lại, phó mặc cho số
phận. May thay, bên ngoài, tiếng rù rì nói chuyện vẫn
tiếp tục nhưng xa dần cũng lúc với tiếng chân bước
về hướng xa lộ. Họ bỏ đi luôn hay sẽ quay lại và
xông vào đây? Có nên bỏ trốn lúc nầy hay không? Mà
trốn đi đâu? Đi ra nằm bờ nằm bụi cho đến sáng?
Được rồi, không khó, nhưng khi họ sẽ xông vào mà
không bắt được tôi thì Thu Hồng và em Thanh sẽ ra sao?
Rồi đêm mai, đêm mốt họ phải quay lại tìm tôi, ngôi
nhà nầy đâu còn là nơi trú ngụ của tôi nữa.
Quay
sang nhìn Thu Hồng, tôi không thấy rõ được mặt nàng
nhưng nghe hơi thở đều, tôi biết nàng không hay biết gì
cả. Một lần nữa, tôi thở dài, nhắm mắt lại, phó
mặc cho số phân. Tôi cố dỗ giấc ngủ để rút ngắn
phần đêm còn lại, nhưng đầu óc vẫn tiếp tục căng
thẳng. Gần sáng tôi giật mình khi nghe nhiều tiếng súng.
Tôi tự hỏi những tiếng súng nầy có liên quan gì đến
mấy người đi qua đây lúc nửa đêm hay không.
Tôi
ngồi dậy trong bóng đen vẫn còn dày đặc trong nhà. Bằng
trí tưởng tượng, tôi nhìn thấy khuôn mặt của Thu
Hồng, mỹ miều, hiền lành và bình an trong giấc ngủ.
Tôi muốn cúi xuống hôn nhưng sợ làm kinh động nên
thôi. Tôi nhẹ nhàng vén mùng bước xuống giường, lặng
lẽ đến đứng tựa cửa sổ nhìn ra ngoài. Bóng đêm vẫn
còn ngự trị khắp nơi, bầu trời đầy sao lấp lánh. Từ
hướng trong xóm, tiếng gà gáy dồn dập nghe lanh lãnh,
báo hiệu bình minh đang tới. Ngoài xa lộ có tiếng máy
của một xe vận tải đầu tiên, từ phía Sài gòn đến,
lướt ngang qua và thẳng về Biên hòa. Tôi vẫn đứng
yên, lòng đầy phiền muộn, cho đến khi những vì sao mờ
nhạt dần vì những tia sáng từ chân trời phía sau vọt
lên. Có lẽ những người kia không trở lại đây nữa,
họ đã đi luôn hoặc đã lộn về bằng con đường khác.
Tôi hít mạnh không khí trong lành của ban mai để xua đi
nỗi lo lắng trong đêm.
Khi
trời vừa sáng tỏ, tôi khe khẽ mở cửa ra ngoài và thấy
ngay những dấu chân khác nhau từ phía sau đi tới, hiện
rõ trên nền đất ướt bên hiên nhà do Thanh tưới đẫm
lúc chiều để tránh bụi bặm khi gió bắt đầu thổi
mạnh. Có những dấu chân trần lẫn chân di dép, đúng
như tôi đã nhận ra trong đêm khuya.
Trong
lòng tôi, nỗi buồn phiền và lo lắng lại kéo đến. Tôi
cảm thấy bị bao vây giữa hai gọng kềm của hai phía.
Tôi muốn yên thân để săn sóc người vợ trẻ tật
nguyền, nhưng cả hai bên thù địch không cho phép tôi
được làm cái công việc hiền hòa và vô hại đó.
Tôi
bước ra sau nhà, nhìn sâu vào phía trong. Xóm làng đang
ngủ im lìm. Tôi biết phía sau xóm làng đó là vùng oanh
kích tự do và bên kia sông Đồng nai là nơi họ đã từng
đặt những giàn phóng hỏa tiễn để gởi cho cư dân
thành phố những quà tặng chết người. Tình hình chiến
sự càng nặng nề thì dưới cái vỏ bình yên và hiền
lành của xóm làng trong đó, những đợt sóng ngầm kinh
sợ càng trở nên sôi động. Tôi phải tính thế nào đây
cho cuộc sống của cái gia đình bé nhỏ của tôi?
Từ
những năm trước, tôi đã xông vào ngay trung tâm của
cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng tôi có vũ khí trên tay
để tự bảo vệ mình, chung quanh tôi có đồng đội để
bảo vệ lẫn nhau. Từ nhiều tháng nay tôi đã trốn chạy
một cách hèn nhát, tưởng rằng mình đã từ bỏ được
chiến tranh, chỉ còn tránh được sự truy nã của an ninh
quân đội nữa là xong. Cảm tưởng đó từ nay không còn
nữa. Ở đây, tôi vẫn còn nằm trong bàn tay lông lá của
cuộc chiến, không biết ngày nào nó bóp lại để giải
thoát cho tôi và Thu Hồng khỏi những bi lụy của trần
gian nầy. Tôi phải làm gì đây? Câu hỏi nầy không lúc
nào rời trí óc tôi. Trước mặt Thu Hồng, tôi cố giữ
vẻ bình thản nhưng lòng tôi luôn luôn nặng trĩu lo âu.
Những lúc nàng ngủ, tôi thường đi lui, đi tới trong nhà
để tìm biện pháp đối phó nếu họ trở lại gọi cửa
hoặc xông vào ban đêm.
Trước
tiên, tôi nghĩ đến việc làm một trần nhà và khi họ
đến, tôi sẽ leo lên ẩn núp trên đó. Tuy nhiên, tôi
nhanh chóng bỏ ngay định nầy vì một cái trần khá vững
chắc trong nhà lá nghèo nàn nầy thì không thích hợp và
dễ gây nghi ngờ. Vả lại, điều nầy làm tôi nhớ lại
câu chuyện rùng rợn và thương tâm ở quê, lúc tôi còn
bé. Đó là cái chết của ông xã trưởng, bà con xa với
mẹ tôi.
Nhà
ông xã trưởng to nhất trong làng. Một ngôi nhà vách
gạch, mái ngói, trần làm bằng ván ghép kín công phu, với
một lỗ thông trong buồng ngủ. Ông cán bộ quốc gia nầy
chỉ về nhà ban ngày còn ban đêm thì lên ngủ tại trụ
sở xã hay đồn bảo an.
Một
hôm, ông về nhà ngủ với vợ. Chắc chắn, có người đã
báo cho phía cách mạng biết nên đến khuya, họ về kêu
cửa. Vợ ông vừa đốt đèn lên và rút chốt là họ
xông vào ngay, súng lăm lăm trong tay, hét to gọi ông ra đầu
hàng. Không thấy ông xuất hiện hoặc nghe ông trả lời,
họ đi lục soát khắp mọi nơi, kéo cả giường ra để
tìm dấu vết hầm bí mật bên duới nền nhà. Họ nói
với nhau rằng nhất định ông không thể thoát ra vì ngõ
trước, ngõ sau đều đã bị bao vây.
Bỗng
có tiếng động bên trên làm họ giật mình, lập tức
cùng ngẩng mặt lên nhìn. Một người trong bọn họ chĩa
súng vào chỗ có tiếng động và siết cò. Một loạt
tiếng nổ vang lên làm thủng nhiều lỗ trên trần. Có
một tiếng thét và tiếng dãy đùng đùng rồi, từ những
lỗ đạn, máu bắt đầu nhiểu xuống. Khi họ tìm được
lỗ thông trong buồng và lên kéo xuống thì ông xã trưởng
chỉ còn là cái xác đẫm máu.
Câu
chuyện rùng rợn nầy xảy ra đã hơn một chục năm, nay
bỗng dưng hiện rõ trong trí não làm cho tôi dứt khoát bỏ
ý định làm trần trong nhà tôi. Nếu không thăng thiên
được thì độn thổ, tôi nghĩ đến một hầm bí mật
trong nhà. Tôi nhìn quanh để tìm vị trí. Không nơi nào
tốt hơn là ngay bên dưới giường vợ chồng tôi. Một
cái hầm tròn vừa một người ngồi với một nắp đậy,
bên trên chất đầy những vật dụng nhẹ như rổ rá,
bao bị, cuốc xẻng, vân vân. Nếu họ đến, tôi chui vào
hầm ngay và em Thanh sẽ nói với họ rằng tôi đã về
Sài gòn từ lúc trưa. Đó không phải là giải pháp toàn
hảo nhưng biết làm thế nào hơn đưọc. Tôi suy nghĩ
cách thực hiện. Nhà nền đất, đào một hầm nhỏ không
khó khăn gì; nhưng điều gay go là phải tạm thời dời
giường sang một bên, chắc chắn làm kinh động Thu Hồng,
điều cần phải tránh trong thời gian cần sự yên tĩnh
để nàng hồi phục các chức năng. Vì vậy, tôi lần lữa
mãi mà chưa dám xúc tiến.
Rồi
ngày Tết Ất Mão 1975 từ từ đến. Đây là cái Tết đầu
tiên tôi ở bên Thu Hồng, nhưng tôi không còn hứng thú
sắm sửa cho cái Tết sum họp của vợ chồng chúng tôi
nữa. Tôi quyết định cho những ngày Tết cổ truyền
lặng lẽ trôi qua. Quyết định nầy gây cho tôi cực lòng
nhưng tôi tự an ủi là làm như thế có lợi cho Thu Hồng
hơn. Trong những tháng qua, tôi luôn luôn tìm cách kích
thích trí nhớ trở lại trong đầu nàng, nhưng ký ức về
cái Tết thì tôi tìm cách xóa bỏ hay ít nhất là che đậy
không cho hiện ra trong ý thức của nàng.
Theo
lời em Thanh kể lại, trong những ngày Tết trước đây,
hai chị em thường nhắc lại nỗi kinh hoàng của cái Tết
Mậu thân ở quê nhà và ôm nhau khóc. Ngày mồng mười
tháng giêng âm lịch được hai chị em chọn làm ngày giỗ
cho cha và hai anh. Thời gian trôi qua đã không làm vơi nước
mắt của hai chị em trong ngày nầy. Trong giai đoạn phục
hồi tâm trí hiện nay, Thu Hồng ắt phải nhạy cảm với
nỗi bi thương to lớn đó. Để cho kỷ niệm nầy chìm
sâu sau bức màn che là điều hợp lý.
Ý
kiến này của tôi cũng được Thanh đồng ý ngay. Tuy
nhiên, chiều ba muơi Tết, tôi bắt gặp em đứng sau hiên
nhà bếp, tay cầm mấy cây nhang đang cháy hướng về
phương bắc vái lạy rồi thụp xuống đất khóc nức nở.
Cảnh đó lại diễn ra lần thứ hai vào sáng mồng mười
Tết. Hôm đó, tôi đứng sau lưng em, lòng bồi hồi cảm
động. Khi ngẩng lên thấy tôi, Thanh vội lau nước mắt:
-
Anh Hưng, đây là cái Tết thứ sáu, em và chị Hồng lìa
xa quê hương. Tết nào anh cũng ở đơn vị, chỉ có hai
chị em với nhau, buồn lắm. Chị Hồng có một nguyện
ước là trở về Huế, tìm lại hài cốt của bác Tư và
của anh Trí anh Tuệ, đem táng chung chỗ với bác gái. Chị
Hồng bảo ngày đêm cầu nguyện hòa bình để anh về
cùng đi với chị. Em có nói rằng em lớn rồi, chị cùng
đi với em cũng được. Chị Hồng cương quyết không
chịu. Chị bảo anh là người duy nhất có thể giúp chị
đứng vững khi trở về chốn cũ. Nhớ lại chuyến về
năm xưa, vừa xuống xe là ngất đi, chị Hồng còn hoảng
sợ. Chị bảo đi với anh, dù đến chân trời góc biển
nào chị cũng vững lòng.
Thanh
ngừng lại chớp mắt rồi nhìn tôi nói tiếp:
-
Anh Hưng, em còn nhỏ chưa biết gì về các gia đình khác,
nhưng em nghĩ rằng không ai thương chồng như chị Hồng
và không ai thương vợ như anh. Có phải vậy không, anh
Hưng?
Tôi
gật đầu chứ biết nói gì hơn.
Thu
Hồng không hay biết gì về cái Tết vừa đi qua. Ngày
ngày, nàng vẫn được đẩy chơi quanh nhà, ngồi trên xe
nghe nhạc và nhìn tôi làm vườn. Nàng cũng bắt đầu tập
nói. Tôi chỉ những vật cụ thể trước mắt và kiên
nhẫn dạy cho nàng nói tên những vật đó. Nàng cũng tỏ
ra cố gắng phát âm một cách khó khăn. Giọng nói mượt
mà như nhung của cô gái Huế trước kia hoàn toàn biến
mất. Bây giờ là âm thanh khó nghe, vừa khàn vừa đục,
bời rời từng tiếng một. Nghe những tiếng đó phát ra
từ miệng nàng, tôi vui mừng vô kể mà sao nước mắt cứ
chực trào ra.
Sau
Tết, cuộc sống kéo dài êm ả, ngày qua ngày. Những bước
chân trong đêm không thấy trở lại nữa, sự lo lắng của
tôi cũng nhẹ dần và được thay thế bằng sự ưu tư về
tình hình quân sự và chính trị. Hàng ngày, tôi nghe tin
tức đài Sài gòn, hàng đêm bắt đài ngoại quốc; mỗi
ngày, đi chợ, Thanh đều mua nhật báo cho tôi. Tôi theo
dõi từng bước tiến của cộng quân, từng bước lùi
của quân đội quốc gia. Nhũng trận đánh đẫm máu ở
Cao nguyên dẫn đến sự di tản thảm thương của đoàn
người tơi tả làm chấn động hàng triệu triệu tấm
lòng ở khắp mọi nơi. Quảng trị thất thủ, rồi Huế,
quê hương yêu dấu của Thu Hồng được “giải phóng”
lần thứ hai và vĩnh viễn cam chịu số phận của mình.
Những
tin tức nầy, tôi giấu không cho Thu Hồng biết; tôi phải
chịu đựng một mình nỗi đau đớn trong lòng.
Nỗi
đau đớn đó dâng lên cực điểm với tin tức về cảnh
hỗn loạn trên bờ cát Thuận an. Các đơn vị quân đội
hoàn toàn tan rã; người ta, lính lẫn thường dân, tranh
nhau lên tàu để trốn tránh họa cộng sản. Trong cảnh
cùng cực nầy, một số quân nhân đã trút sự nhục nhã,
sự căm tức, sự sợ hãi lên đầu dân chạy nạn. Họ
bắn giết, cướp bóc, hành hạ dân vô tội, những người
mà không lâu truớc đây họ còn mang sinh mạng mình ra để
bảo vệ. Đau đớn thay, những quân nhân mất cả nhân
tính đó lại là những người lính thủy quân lục chiến,
đồng đội cũ của tôi!
Sau
Huế, các tỉnh miền Trung nhanh chóng bị thất thủ. Qua
đến tháng tư, tình hình hoàn toàn tuyệt vọng. Nỗi đau
đớn trong lòng tôi, không biết tự lúc nào trở thành
nỗi ngao ngán chiến tranh. Chúng ta không đủ sức đuổi
quân xâm lược về bắc thì thôi, để họ chiếm cả
miền Nam cho rồi. Tôi thực sự mong chiến tranh sớm chấm
dứt. Hòa bình trước đã rồi miền Nam nầy ra sao cũng
được. Vì vậy, khi cộng quân phá vỡ phòng tuyến cuối
cùng ở Long khánh, tôi không còn đau xót nữa mà có phần
mừng rỡ là khác.
Thôi,
số phận miền Nam đã được định đoạt, Việt Nam Cộng
hòa sắp bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới. Hòa bình
sắp trở lại, tôi cam chịu kiếp sống hẩm hiu của hơn
hai mươi triệu người bại trận. Nhưng tôi sẽ được
tiếp tục gần gũi Thu Hồng, không còn phải lo quốc gia
truy nã, không còn phải lo cộng sản bắt trói dẫn đi vì
nghi ngờ là gián điệp.
Tôi
thực sự mừng rỡ khi nghe qua làn sóng của đài phát
thanh Giải phóng, một thông cáo của chính phủ cộng sản
lâm thời ở miền Nam, được nhắc đi nhắc lại với
lời lẽ thực tốt đẹp, thực nhân đạo. Tôi cố vin
vào đó để hi vọng những ngày bình yên sắp tới, một
cuộc sống an lành cho Thu Hồng và cho tôi. Chúng tôi sẽ
tiếp tục ở lại đây hoặc đem Thu Hồng về một nơi
nào đó, ra sức làm thuê làm mướn để nuôi nấng và
săn sóc nàng cho đến ngày bình phục.
Tuy
nhiên, đã từng là người lính trên chiến trường, tôi
biết rằng hòa bình không đến nhẹ nhàng như chiếc lá
rơi. Quả thực vậy, sau khi tuyến lửa Phan rang và Long
khánh bị vỡ thì chiều ngày 28 tháng tư, một phòng tuyến
được gấp rút thành lập ở Thủ đức với nhiều xe
tăng và trọng pháo rầm rập bố trí trên xa lộ. Tôi gấp
rút đào một hầm trú ẩn ngay giữa nhà. Tôi biết điều
nầy bất lợi cho tâm trí của Thu Hồng, nhưng không thể
làm khác hơn được. Tôi chờ đợi một trận đánh lớn
ngay đêm nay. Tôi đã biết quá rõ hỏa lực của phe cộng
hòa; tôi cũng đã từng nếm hỏa lực của phe cách mạng
nên tôi tự hiểu rằng cái hầm trú ẩn trong nhà không
đủ sức che chở cho chúng tôi, nhưng có còn hơn không.
Tôi sẽ bế Thu Hồng xuống hầm ngay sau tiếng nổ đầu
tiên và khu nầy sẽ bị rải thảm với hàng ngàn viên
đại pháo của cả hai bên.
Tôi
để ý xem nét mặt của Thu Hồng, thấy sự lo lắng hiện
rõ trong cái nhìn. Nàng đã nhận ra tình hình nghiêm trọng.
Trong vùng ý thức hạn hẹp vừa được mở lại, ắt hẳn
không tránh khỏi những hình ảnh ghê rợn mà nàng đã
chứng kiến năm xưa. Vì vậy tôi bỏ hẳn công việc làm
vườn để gần gũi nàng từng giờ, từng phút. Tôi cố
trấn an nàng bằng những chuyện vui đùa, nhưng tôi cũng
nhận ra rằng chính giọng nói của mình không còn tự
nhiên như những ngày trước nữa.
Cả
đêm hôm đó tôi không ngủ, nằm lắng nghe động tĩnh
bên ngoài. Tiếng xe tăng rú lên từng chăp, tiếng xích
sắt khua trên mặt lộ, đó đây từng loạt đạn lẻ tẻ
vang lên. Nhưng trận chiến lớn không nổ ra, một đêm
bình yên lại đi qua trong gian nhà nhỏ của chúng tôi.
Rạng
ngày, nhìn ra xa lộ, tôi thấy vắng tanh, không còn bóng
dáng của chiếc xe bọc thép nào, chỉ có rải rác vài
chiếc xe dân sự hướng về thành phố. Tôi phải dụi
mắt nhiều lần để yên trí mình không trông nhầm. Tôi
lắc đầu, không thể hiểu nổi quân đội cộng hòa đang
chơi cái chiến thuật gì đây. Nhưng dù sao tôi cũng thở
dài nhẹ nhõm vì nơi đây không được hai bên chọn làm
địa điểm cho một trận huyết chiến cuối cùng. Tuy
thế, tôi cũng chưa vội lạc quan vì biết rằng cái điều
khủng khiếp vẫn còn lơ lửng đâu đây, có thể rơi
xuống bất cứ lúc nào. Thôi đành mặc kệ cho sự rủi
may, mặc kệ cho bánh xe lịch sử, mặc kệ cho số phận
an bài của nhân dân miền Nam. Phần tôi là chỉ lo cho
cuộc sống mong manh của Thu Hồng mà thôi.
Cái
hầm trú ẩn choáng hết phần trống của gian nhà không
còn chỗ cho xe lăn của Thu Hồng nên nàng đành nằm trên
giường, tôi ngồi kế bên trò chuyện.
Đêm
kế đó, tôi ngủ say vì suốt đêm hôm trước không hề
chợp mắt. Đến sáng, tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng
xe ồn ào trên xa lộ. Tôi vội bước xuống giường và
mở cửa chạy ra. Tôi lại dụi mắt nhiều lần, sửng
sốt nhìn về phía trước. Những chiếc quân xa do Liên xô
chế tạo chở đầy binh sĩ phủ lá cây, nối đuôi nhau
chạy về trung tâm thành phố. Tôi gục đầu vào bệ cửa,
nghe một nỗi đau đớn cực kỳ to lớn dậy lên trong
lòng.
Xong rồi, đây là giờ phút
cuối cùng của một đất nước với tất cả sự xấu
xa và tốt đẹp của một xã hội con người! Hết rồi,
cuộc sống quen thuộc đã ấp ủ trọn tuổi thơ của
tôi! Thôi rồi, những kỷ niệm một thời chinh chiến,
cùng đồng đội thề lấy da ngựa bọc thây ngoài chiến
địa! Tôi đã ngỡ rằng mình sẵn sàng chấp nhận hòa
bình với bất cứ giá nào, nhưng bây giờ, ở cái giờ
phút thiêng liêng nầy, lòng tôi không giản dị như thế.